vanban.org

Bản án 106/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An Tuyên án 27/08/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về điều luật áp dụng và tội danh: Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Lữ Văn Ô phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm n… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lữ Văn Ốn - Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về điều luật áp dụng và tội danh: Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KỲ SƠN
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:106/2020/HS-ST
Ngày: 27- 8 - 2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ SƠN, TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hà Văn Hải.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Lữ Thị Khăm.

2. Ông Moong Văn Bình.

- Thư ký phiên tòa: Bà Vi Thị Khuyên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Vương Quốc Khánh - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 8 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 107/2020/TLST-HS, ngày 21 tháng 7 năm 2020 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 122/2020/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 8 năm 2020 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lữ Văn Ô. Tên gọi khác: Không. Sinh ngày 16/7/1988 tại huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: Bản TP, xã QP, huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lữ Văn Q và bà Lữ Thị Q. Vợ Lữ Thi H sinh năm 1993, con có 02 con lớn nhất sinh năm 2012 nhỏ nhất sinh năm 2017.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Bản án số 63/2014/HSST, ngày 27/11/2014 của Tòa án nhân dân huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” chấp hành xong bản án ngày 24/9/2015, đã được xóa án tích.

Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 31/5/2020 cho đến nay. Có mặt.

Người bào chữa cho các bị cáo: Ông Lê Công Thiết. Trợ giúp viên Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Nghệ An. Có mặt.

Bị hại: Anh Vi Văn Kh, sinh năm 1989. Nơi cư trú: Bản XT, xã ML, huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An. Có mặt.

Người làm chứng: bà Lữ Thị L, sinh năm 1961. Nơi cư trú: Bản P, xã N Gi, huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 30/5/2020, Lữ Văn Ô đi xe khách từ huyện Quế Phong sang xã Mỹ Lý huyện Kỳ Sơn để đến nhà anh Dương (anh Dương là anh con bác của Ô) ở bản Xiềng Tắm xã Mỹ Lý, huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An để hỏi xem có việc gì làm thì xin làm cùng. Khi đi đến bản Xốp Tụ, xã Mỹ Lý, huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An thì Ô xuống xe, đi vào quán ăn uống. Sau khi ăn uống xong, Ô đi bộ từ bản Xốp Tụ lên bản Xiềng Tắm để đến nhà anh Dương. Trên đường đi, Ô nhặt được một chiếc chìa khóa và cầm theo bên người. Đến khoảng 01 giờ sáng ngày 31/5/2020, Ô đi qua nhà anh Vi Văn Kh, ở bản Xốp Tụ, xã Mỹ Lý, huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An thì thấy có một số chiếc xe máy đang dựng trong sân nhà quan sát không có ai, lúc này Ô nảy sinh ý định lấy trộm chiếc xe máy để làm phương tiện đi lại cho mình. Ô đi vào sân nhà, rồi dùng chiếc chìa khóa mình nhặt được mở ổ khóa chiếc xe máy, dắt ra đường và nổ máy điều khiển chạy về nhà mẹ vợ là bà Lữ Thị L, trú tại xã Nậm Giải, huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An. Đến khoảng 14 giờ ngày 31/5/2020, Ô bị Công an huyện Quế Phong phát hiện, thu giữ chiếc xe máy nhãn hiệu YAMAHA loại xe SIRUS, màu xanh đen, biển kiểm soát 37K1-077.27 mà Ô trộm của anh Kh, đồng thời đưa Ốn về trụ sở UBND xã Nậm Giải, huyện Quế Phong.

Ngày 31/5/2020, anh Vi Văn Kh đã làm đơn trình báo đến Công an huyện Quế Phong về hành vi bị mất tài sản. Ngày 4/6/2020 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Quế Phong đã có công văn yêu cầu định giá số 89/YC-ĐG để yêu cầu Hội đồng định giá tài sản - UBND huyện Quế Phong định giá: 01 (một) chiếc xe máy nhãn hiệu YAMAHA loại xe SIRUS, màu xanh đen, số khung C6J0EY111799, số máy 5C6J111808, biển kiểm soát 37K1-077.27.

Kết luận định giá tài sản số 363/KL-HĐĐG ngày 4/6/2020 của Hội đồng định giá tài sản - UBND huyện Quế Phong đã kết luận: 01 (Một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại xe SIRIUS màu xanh đen, số khung C6J0EY111799, số máy 5C6J111808, biển kiểm soát 37K1- 077.27, xe đã qua sử dụng, có giá trị tại thời điểm bị mất trộm là 10.750.000đ (Mười triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng).

Quyết định chuyển vụ án hình sự để điều tra theo thẩm quyền số 15/QĐ-VKS-HS ngày 11 tháng 6 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An.

Cáo trạng số 105/CT-VKS-KS ngày 21/7/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Sơn truy tố Lữ Văn Ô về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Lữ Văn Ô mức án từ 12 (Mười hai) tháng đến 18 (Mười tám) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo; Về vật chứng: 01 (Một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại xe SIRIUS màu xanh đen, số khung C6J0EY111799, số máy 5C6J111808, biển kiểm soát 37K1- 077.27 đã được trả lại cho chủ sở hữu là anh Vi Văn Khạt.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại được tài sản không yêu cầu bị cáo phải bồi thường; Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, trình độ dân trí thấp, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại phiên tòa, bị cáo Lữ Văn Ô đồng ý với bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát, không có tranh luận gì. Bị cáo nói lời nói sau cùng: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Vụ án được Cơ quan cảnh sát điều tra huyện Quế Phong khởi tố vụ án, nhưng hành bị cáo Lữ Văn Ô thực hiện tại khu vực Xốp Tụ, xã Mỹ Lý, huyện Kỳ Sơn nên thẩm quyền giải quyết vụ án thuộc Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Kỳ Sơn, vì vậy Viện Kiểm Sát nhân dân huyện Quế Phong quyết định chuyển vụ án hình sự để điều tra theo thẩm quyền số 15/QĐ-VKS-HS ngày 11 tháng 6 năm 2020 là đúng thẩm quyền theo Bộ luật tố tụng hình sự quy định.

Về hành vi của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo Lữ Văn Ô đã khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng và các tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 01 giờ sáng ngày 31/5/2020, tại bản Xốp Tụ, xã Mỹ Lý, huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An, Lữ Văn Ô đã có hành vi lén lút lấy trộm 01 (Một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại xe SIRIUS màu xanh đen, biển kiểm soát 37K1- 077.27 của anh Vi Văn Khạt. Chiếc xe có giá trị tại thời điểm bị mất trộm là 10.750.000đ (Mười triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng). Hành vi của Lữ Văn Ô đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

Xét tính chất vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Vụ án thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, làm mất trật tự trị an trên địa bàn, gây tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân. Bị cáo tuổi đời còn trẻ, là người có đủ năng lực để nhận thức được việc trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật nhưng đã lợi dụng sự sơ hở của chủ sở hữu để lén lút thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo từng bị kết án về hành vi tương tự nhưng không lấy đó làm bài học để tu sửa bản thân mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm. Xét thấy trong thời gian gần đây, hành vi trộm cắp tài sản trên địa bàn huyện Kỳ Sơn xảy ra nhiều, để góp phần đảm bảo an ninh trật tự, thực hiện nhiệm vụ chính trị trên địa bàn huyện cần xử lý nghiêm hành vi này, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục riêng bị cáo và đấu tranh phòng ngừa chung. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, do đó xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có thu nhập ổn định, gia đình khó khăn nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.

Về vật chứng: 01 (Một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại xe SIRIUS màu xanh đen, số khung C6J0EY111799, số máy 5C6J111808, biển kiểm soát 37K1- 077.27 đã được trả lại cho chủ sở hữu là anh Vi Văn Khạt là đúng quy định.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản bị trộm cắp quá trình điều tra và tại phiên tòa không có yêu cầu về việc bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về ý kiến của bị hại: Về trách nhiệm dân sự không yêu cầu bồi thường gì thêm; Về trách nhiệm hình sự đề nghị xử lý nghiêm hành vi của bị cáo.

Đối với bà Lữ Thị Liêm (mẹ vợ bị cáo) sau khi trộm cắp được chiếc xe máy, Lữ Văn Ô đã đưa chiếc xe máy trộm cắp được cất giấu tại nhà bà Lữ Thị Liêm, trú tại bản Pòng, xã Nậm Giải, huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An. Tuy nhiên, bà Liêm chỉ chứng kiến có thấy chiếc xe máy do Ốn đưa tới, không biết đó là tài sản do trộm cắp mà có, do đó Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Quế Phong không xử lý về mặt hình sự đối với bà Liêm là đúng quy định của pháp luật.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về điều luật áp dụng và tội danh: Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lữ Văn Ô: 12 (Mười hai) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 31/5/2020.

2. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Lữ Văn Ô phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.

Cỡ chữ