vanban.org

Bản án 106/2020/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Quảng Ninh Tuyên án 16/12/2020 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 16/12/2020 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn D và sửa Bản án sơ thẩm:

Áp dụng: điểm b khoản 3 Điều 191; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; khoản 1, khoản 2 và khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: bị cáo Nguyễn Văn D 03 (ba) năm tù cho hưởng án treo về tội “Vận chuyển hàng cấm”, thời gian thử thách 60 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn D phạm tội: “Vận chuyển hàng cấm” - phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS n…"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn D và sửa Bản án sơ thẩm:
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH QUẢNG NINH
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 106/2020/HS-PT
Ngày 16/12/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Văn Đoan

Các Thẩm phán: Ông Bùi Đức Tuấn

Ông Trần Quang Cường

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Thanh Mai – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Long - Kiểm sát viên.

Trong ngày 16 tháng 12 năm 2020 tại Hội trường xét xử số 2 Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 104/2020/TLPT-HS ngày 26 tháng 10 năm 2020 đối với bị cáo Nguyễn Văn D do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn D đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 93/2020/HS-ST ngày 24 tháng 9 năm 2020 của Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh.

- Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Văn D; Sinh ngày 31/01/1981 tại T, tỉnh H; Nơi ĐKHKTT: thôn L, xã B, thành phố M, tỉnh Q; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ văn hoá: 7/12; Giới tính: nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Nguyễn Hoài L (đã chết) và bà Đinh Thị B; Có vợ: Đào Thị D và 03 con, con lớn nhất sinh năm 2004, con nhỏ nhất sinh năm 2018; Tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: ngày 04/7/2008 bị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xét xử phúc thẩm xử phạt 09 tháng tù về tội: “Vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới”; Bắt quả tang ngày 24/6/2020, tạm giữ đến ngày 03/7/2020 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; Có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Chị Đào Thị D; Sinh năm 1984; Địa chỉ: thôn L, xã B, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh; Vắng mặt (có đơn xin vắng mặt);

2. Anh Hoàng Ngọc A; Sinh năm 1975; Địa chỉ: phường H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh; Vắng mặt (có đơn xin vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa sơ thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 03 giờ ngày 24/6/2020, Nguyễn Văn D đang ở nhà tại thôn L, xã B, thành phố M thì N.A.S là người Trung Quốc có quen biết Nguyễn Văn D điện thoại thuê Nguyễn Văn D vận chuyển 13 thùng thuốc lá nhập lậu từ bờ sông biên giới về Móng Cái với giá 4.000.000đ (bốn triệu đồng). Nguyễn Văn D đồng ý và được N.A.S thông báo về thời gian, địa điểm nhận hàng vận chuyển. Đến 04 giờ cùng ngày, Nguyễn Văn D đi xe ô tô bán tải biển kiểm soát 14C-221.03 đến khu vực bờ sông biên giới Việt Nam – Trung Quốc, mốc 1364(2)+200m thuộc thôn L, xã B, thành phố M nhận 13 thùng thuốc lá chở về Móng Cái, khi đi đến gần nhà Nguyễn Văn D đoạn rẽ ra đường quốc lộ 18C thì bị Biên phòng bắt. Vật chứng thu giữ gồm 13 thùng các tông bên trong chứa thuốc lá điếu, in chữ Trung Quốc. Tổng cộng 6.700 bao. Tại chứng thư giám định về nguồn gốc xác định số thuốc lá thu giữ không sản xuất tại Việt Nam.

Với nội dung trên tại Bản án sơ thẩm số: 93/2020/HS-ST ngày 24/9/2020, Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái đã căn cứ điểm b khoản 3 Điều 191; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 tuyên phạt Nguyễn Văn D 03 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án, được trừ đi những ngày đã bị tạm giam từ ngày 24/6/2020 đến ngày 03/7/2020 về tội: “Vận chuyển hàng cấm”. Ngoài ra bản án còn tuyên về xử lí vật chứng và án phí theo quy định của pháp luật.

Ngày 07 tháng 10 năm 2020, Nguyễn Văn D kháng cáo xin hưởng án treo. Lí do: Gia đình sống ở xã biên giới khó khăn, là lao động chính, con còn nhỏ. Bố đẻ là người có công được Nhà nước tặng thưởng huân chương, bản thân đã hai lần giúp cơ quan Công an phát hiện bắt hai vụ án ma túy trên địa bàn.

Tại phiên tòa phúc thẩm, Nguyễn Văn D giữ nguyên nội dung kháng cáo và còn khai trong thời gian chờ xét xử phúc thẩm bị cáo còn giúp cơ quan Công an và Biên phòng phát hiện bắt giữ một vụ nhập cảnh trái phép và một vụ vận chuyển trái phép chất ma túy tại Móng Cái. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận, chiếu cố cho bị cáo được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân dân tỉnh Quảng Ninh có quan điểm: chấp nhận đơn kháng cáo của Nguyễn Văn D, sửa bản án sơ thẩm: giữ nguyên hình phạt của bản án sơ thẩm cho hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn D làm trong thời hạn luật định là hợp lệ, được chấp nhận để xem xét theo trình tự phúc thẩm.

. Về tội danh và hình phạt: Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn D khai báo có nội dung phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ và có nội dung: Khoảng 04 giờ ngày 24/6/2020, Nguyễn Văn D đã vận chuyển thuê cho N.A.S (người Trung Quốc) 6.700 bao thuốc lá do Trung Quốc sản xuất từ bờ sông biên giới Việt Nam – Trung Quốc vào trung tâm thành phố M để nhận 4.000.000đ tiền công thì bị bắt. Như vậy kết hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án cho thấy có căn cứ để kết luận Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt Nguyễn Văn D về tội “Vận chuyển hàng cấm” theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 191 Bộ luật Hình sự là đúng pháp luật.

Về nội dung kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Văn D, Hội đồng xét xử nhận thấy: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, bản thân sống ở khu vực biên giới khó khăn, hạn chế nhận thức pháp luật, có bố đẻ là người có công được Nhà nước tặng thưởng huân chương. Đặc biệt bị cáo đã nhiều lần giúp cơ quan chức năng phát hiện, bắt giữ các vụ án ma túy và xuất nhập cảnh trái phép trên địa bàn, được cơ quan Công an ghi nhận. Bởi vậy có thể xem xét cho bị cáo được hưởng án treo thể hiện sự khoan hồng của nhà nước đối với bị cáo.

Án phí hình sự phúc thẩm: Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo nên bị cáo Nguyễn Văn D không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự:

1. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn D và sửa Bản án sơ thẩm:

Áp dụng: điểm b khoản 3 Điều 191; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; khoản 1, khoản 2 và khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: bị cáo Nguyễn Văn D 03 (ba) năm tù cho hưởng án treo về tội “Vận chuyển hàng cấm”, thời gian thử thách 60 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Văn D cho Ủy ban nhân dân xã Bắc Sơn, thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo Nguyễn Văn D có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã Bắc Sơn, thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh trong việc giám sát, giáo dục bị cáo Nguyễn Văn D.

Trong thời gian thử thách nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định của Điều 56 Bộ luật hình sự.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì việc chấp hành hình phạt tù cho hưởng án treo được thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự được sửa đổi, bổ sung năm 2019.

Áp dụng: điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự: Hủy bỏ việc áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo Nguyễn Văn D.

2. Về án phí hình sự phúc thẩm: bị cáo Nguyễn Văn D không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ