- Tranh chấp gì? án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Việt S. Buộc bà Nguyễn Thị Kim H và ông Nguyễn Bá T cùng trả cho ông Nguyễn Việt S số tiền là 45.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH CÀ MAU ————— Bản án số: 106/2020/DS-ST Ngày 14 - 9 - 2020 V/v Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Phước.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Hoàng Giang.
Ông Trần Quốc Toàn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Tú là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.
Ngày 14 tháng 9 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 187/2020/TLST-DS, ngày 24 tháng 4 năm 2020, về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 217/2020/QĐXXST-DS, ngày 29 tháng 7 năm 2020, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
Ông Nguyễn Việt S, sinh năm 1977 (có mặt).
Nơi cư trú: Khóm A, thị trấn C, huyện P, tỉnh C.
- Bị đơn:
Bà Nguyễn Thị Kim H, sinh năm 1981 (vắng mặt).
Ông Nguyễn Bá T (chồng bà Nguyễn Thị Kim H) (vắng mặt).
Cùng cư trú: Ấp T, xã N, huyện P, tỉnh C.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn là ông Nguyễn Việt S trình bày: Vào ngày 22/4/2019, bà Nguyễn Thị Kim H có mua 01 điện thoại di động hiệu Iphone Xs MAX tại cửa hàng của ông. Bà Nguyễn Thị Kim H yêu cầu mua trả góp, thỏa thuận trả góp hàng tháng là 3.900.000 đồng, trả trong thời gian 10 tháng, hàng tháng phải trả vào ngày 21 hàng tháng. Như vậy, số tiền bà Nguyễn Thị Kim H nợ từ việc mua điện thoại trả góp là 39.000.000 đồng. Quá trình mua bán có làm hợp đồng, bà Nguyễn Thị Kim H có ký tên vào hợp đồng. Vào ngày 24/01/2020, bà Nguyễn Thị Kim H có mua 01 điện thoại di động hiệu VIVO tại cửa hàng của ông với giá là 6.771.000 đồng. Thỏa thuận đến ngày 24/02/2020 sẽ trả tiền. Quá trình mua bán, bà Nguyễn Thị Kim H còn nợ và có ký tên vào biên nhận nợ. Tổng cộng bà Nguyễn Thị Kim H còn nợ là 45.771.000 đồng. Ông có yêu cầu bà Nguyễn Thị Kim H trả tiền, bà Nguyễn Thị Kim H hứa hết lần này đến lần khác và có viết bản cam kết và cam kết đến ngày 24/02/2020 sẽ trả nhưng đến nay đã quá thời hạn mà bà Nguyễn Thị Kim H không trả như thỏa thuận, cố tình trốn tránh nghĩa vụ thanh toán nợ. Hiện tại, ông Nguyễn Bá T và bà Nguyễn Thị Kim H là vợ chồng, nợ phát sinh trong thời kỳ hôn nhân nên ông Nguyễn Bá T cùng phải có trách nhiệm cùng bà Nguyễn Thị Kim H trả toàn bộ số tiền trên còn nợ cho ông. Vì vậy, ông yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Nguyễn Bá T và bà Nguyễn Thị Kim H cùng trả cho ông tổng số tiền là 45.771.000 đồng (bốn mươi lăm triệu bảy trăm bảy mươi mốt nghìn đồng).
Bị đơn là bà Nguyễn Thị Kim H và ông Nguyễn Bá T đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt, không cung cấp lời khai chứng cứ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về tố tụng: Việc ông Nguyễn Việt S khởi kiện bà Nguyễn Thị Kim H và ông Nguyễn Bá T cùng trả tiền từ việc bà Nguyễn Thị Kim H có mua điện thoại còn nợ nên đây là tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
Bà Nguyễn Thị Kim H và ông Nguyễn Bá T được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do, căn cứ khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt đối với bà Nguyễn Thị Kim H và ông Nguyễn Bá T.
[2]. Xét về quan hệ tranh chấp: Ông Nguyễn Việt S xác định bà Nguyễn Thị Kim H có thỏa thuận mua điện thoại sử dụng còn nợ của ông tổng số tiền là 45.771.000 đồng. Từ đó, có căn cứ xác định đây là quan hệ tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản được quy định tại Điều 430 và Điều 440 của Bộ luật Dân sự.
[3]. Về nội dung: Ông Nguyễn Việt S xác định là ông đã thỏa thuận mua bán đối với bà Nguyễn Thị Kim H. Cụ thể, ngày 22/4/2019, bà Nguyễn Thị Kim H có mua 01 điện thoại di động hiệu Iphone Xs MAX tại cửa hàng của ông. Bà Nguyễn Thị Kim H yêu cầu mua trả góp, thỏa thuận trả góp hàng tháng là 3.900.000 đồng, trả trong thời gian 10 tháng, hàng tháng phải trả vào ngày 21 hàng tháng. Như vậy, số tiền bà Nguyễn Thị Kim H nợ từ việc mua điện thoại trả góp là 39.000.000 đồng. Quá trình mua bán có làm hợp đồng, bà Nguyễn Thị Kim H có ký tên vào hợp đồng. Vào ngày 24/01/2020, bà Nguyễn Thị Kim H có mua 01 điện thoại di động hiệu VIVO tại cửa hàng của ông với giá là 6.771.000 đồng. Thỏa thuận đến ngày 24/02/2020 sẽ trả tiền. Quá trình mua bán, bà Nguyễn Thị Kim H còn nợ và có ký tên vào biên nhận nợ. Tổng cộng bà Nguyễn Thị Kim H còn nợ là 45.771.000 đồng. Ông có yêu cầu thanh toán nhiều lần nhưng vợ chồng bà Nguyễn Thị Kim H và ông Nguyễn Bá T cố tình trốn tránh việc trả nợ. Do bà Nguyễn Thị Kim H và ông Nguyễn Bá T là vợ chồng nên cả hai người phải có trách nhiệm cùng nhau trả số tiền còn nợ cho ông Nguyễn Việt S. Để chứng minh cho lời trình bày của mình, ông Nguyễn Việt S đã cung cấp Hợp đồng điện thoại ngày 22/4/2019 và biên nhận nợ ngày 24/01/2020, nội dung thỏa thuận mua bán, hợp đồng và biên nhận nợ do bà Nguyễn Thị Kim H ký tên.
Như vậy, tổng số tiền bà Nguyễn Thị Kim H và ông Nguyễn Bá T còn nợ lại ông Nguyễn Việt S 45.771.000 đồng, ông Nguyễn Việt S yêu cầu là có căn cứ để chấp nhận.
[4]. Đối với bà Nguyễn Thị Kim H và ông Nguyễn Bá T không có ý kiến gì về nội dung khởi kiện và chứng cứ do ông Nguyễn Việt S cung cấp và cũng không có yêu cầu phản tố.
Do bà Nguyễn Thị Kim H và ông Nguyễn Bá T đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng đã ký kết nên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Việt S và buộc bà Nguyễn Thị Kim H và ông Nguyễn Bá T cùng phải trả toàn bộ số tiền từ việc mua bán còn nợ là 45.771.000 đồng cho ông Nguyễn Việt S là có cơ sở.
[5]. Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Bà Nguyễn Thị Kim H và ông Nguyễn Bá T phải chịu theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Áp dụng các điều 430, 440 của Bộ luật Dân sự.
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Việt S. Buộc bà Nguyễn Thị Kim H và ông Nguyễn Bá T cùng trả cho ông Nguyễn Việt S số tiền là 45.771.000 đồng (bốn mươi lăm triệu bảy trăm bảy mươi mốt nghìn đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Buộc bà Nguyễn Thị Kim H và ông Nguyễn Bá T cùng phải chịu 2.288.550 đồng (hai triệu hai trăm tám mươi tám nghìn năm trăm năm mươi đồng).
Ông Nguyễn Việt S được nhận lại số tiền đã nộp tạm ứng án phí là 1.144.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0011539 ngày 24 tháng 4 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Ông Nguyễn Việt S được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bà Nguyễn Thị Kim H và ông Nguyễn Bá T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND huyện Phú Tân; - Phòng KTNV&THA; - Chi cục THADS huyện Phú Tân; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thành Phước |