- Tranh chấp gì? án hình sự — "cưỡng đoạt tài sản - phạm tội cưỡng đoạt tài sản (điều 170 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? 1 Tuyên bố bị cáo Trần Giá L phạm tội Cưỡng đoạt tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 106/2019/HS-ST Ngày : 24/9/2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH - TP. HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tô Trần Ái Vy
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Bà Nguyễn Thị Phượng Quyên
2/ Ông Nguyễn Tấn Quang
- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Ngọc Lữ – Thư ký tòa án nhân dân quận Tân Bình - Tp. Hồ Chí Minh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Tp. Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trúc Giang - Kiểm sát viên
Ngày 24 tháng 9 năm 2019 tại Trụ sở Toà án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 109/2019/TLST-HS ngày 26 tháng 8 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 118/2019/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 9 năm 2019 đối với bị cáo:
Trần Giá L; Giới tính: Nam ; Sinh năm 1997 ; tại Đồng Tháp; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp N, xã B, huyện C, tỉnh Đ; nghề nghiệp: nhân viên Spa; Trình độ học vấn 07/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; con ông: Trần Thanh M, sinh năm 1968 và bà Phạm Tuyết L, sinh năm 1968; Hoàn cảnh gia đình: chưa có vợ con; Tiền án: không; tiền sự: không, bị bắt tạm giam ngày: 31/12/2018. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Bà Phạm Thị L, sinh năm 1978; địa chỉ: 145 Đường T, phường C, Quận M, Tp. Hồ Chí Minh. (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Giá L là nhân viên tại tiệm Spa Khỏe và Đẹp tại địa chỉ 145 Đường T, phường C, Quận M, Tp. Hồ Chí Minh. Vào khoảng 10 giờ 00 ngày 30/12/2018, L vào phòng thay đồ của nhân viên ở lầu 2 của tiệm Spa, L nhìn thấy trên màn hình camera thấy chị Phạm Thị L đang quan hệ tình dục với quản lý của tiệm Spa là anh Lê Tấn A. L liền dùng điện thoại di động của mình chụp 02 tấm ảnh cảnh chị Lệ và anh An đang quan hệ tình dục. Khoảng 23 giờ cùng ngày, L gửi những tấm ảnh này qua tin nhắn ứng dụng Zalo cho chị Lệ và thông báo cho chị Lệ biết nếu muốn L xóa hình ảnh thì phải chuyển cho L 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng) vào tài khoản ngân hàng của L số 1381-000-131107 mở tại Ngân hàng BIDV, chi nhánh Bến Nghé. Nếu chị Lệ không chuyển L sẽ chuyển những hình ảnh này cho chồng chị Lệ, những người làm chung trong Spa và tung lên mạng xã hội biết. Vì lo sợ mọi người sẽ biết nên chị Lệ đồng ý với yêu cầu của L và đề nghị gặp trực tiếp để đưa tiền và xóa ảnh trước mặt chị Lệ. Lúc này, L yêu cầu chị Lệ phải đưa thêm 100.000.000 (Một trăm triệu) đồng nữa thì L mới xóa ảnh. Chị Lệ đồng ý và hẹn gặp L lúc 18 giờ ngày 31/12/2018 tại quán Café Đà Lạt Phố ở địa chỉ 550 Âu Cơ, Phường 10, quận Tân Bình để đưa tiền.
Khoảng 19 giờ ngày 31/12/2018, chị Lệ đến gặp L tại quán Café Đà Lạt Phố, chị Lệ đưa trước cho L 58.000.000 (Năm mươi tám triệu) đồng, số còn lại sẽ chuyển sau. L nhận tiền từ chị Lệ rồi bỏ vào túi xách đang đeo chéo trên vai thì bị Tổ công tác của Đội cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội Công an quận Tân Bình bắt quả tang. Vật chứng vụ án: Thu giữ của bị cáo L: + Một điện thoại di động Iphone 6. + 01 xe gắn máy màu đen nhám hiệu Honda biển số 66C1-447.41 + 01 túi xách màu xanh đen.
Tại bản cáo trạng số 64/CTr-VKSTB ngày 22 tháng 8 năm 2019, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình đ truy tố bị cáo Trần Giá L về tội Cưỡng đoạt tài sản” theo điểm a khoản 3 Điều 170 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
- Trong phần luận tội đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình nêu tóm tắt nội dung vụ án, các nguyên nhân điều kiện phát sinh tội phạm, tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, nêu các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo từ 05 đến 06 năm tù.
Về vật chứng thì đề nghị xử lý theo quy định pháp luật.
- Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đ nêu, không có tranh luận gì, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đ được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
1 Trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo Trần Giá L, Điều tra viên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Tân Bình, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình được phân công điều tra giải quyết vụ án đ thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Căn cứ diễn biến tại phiên tòa, thông qua phần xét hỏi, tranh luận nhận thấy lời khai, chứng cứ phạm tội phù hợp với tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; bị cáo, bị hại, không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đ thực hiện đều phù hợp với quy định của pháp luật.
2 Xét thấy lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với bản kết luận điều tra của cơ quan cảnh sát điều tra, bản cáo trạng của Viện kiểm sát, lời khai của người bị hại, người làm chứng cùng tang vật, các tài liệu chứng cứ khác thu được trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử xét thấy đủ cơ sở kết luận bị cáo Trần Giá L đ có hành vi dùng hình ảnh nhạy cảm uy hiếp người bị hại là chị Phạm Thị Lệ để nhằm chiếm đoạt số tiền 200.000.000 đồng. Hành vi của bị cáo đ phạm vào tội Cưỡng đoạt tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 170 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017
Hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho x hội, đ trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu, quản lý tài sản hợp pháp của công dân được Nhà nước và pháp luật bảo vệ. Bị cáo đ thành niên, đủ khả năng nhận thức được hành vi uy hiếp tinh thần nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác là trái pháp luật nhưng do tham lam nên bị cáo đ cố tình thực hiện tội phạm, bất chấp sự trừng trị của pháp luật. Xét về ý thức, bị cáo mong muốn chiếm đoạt của người bị hại số tiền là 200.000.000 đồng. Đây là tình tiết định khung quy định tại điểm a khoản 3 Điều 170 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Tuy nhiên xét về hậu quả của vụ án có phần hạn chế do người bị hại chỉ giao cho bị cáo số tiền 58.000.000 đồng thì bị bắt quả tang. Tài sản đ được thu hồi trả lại cho người bị hại nên Hội đồng xét xử xem xét tình tiết này để quyết định hình phạt phù hợp với tính chất và mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nhằm mục đích giáo dục, cải tạo bị cáo đồng thời có tác dụng răn đe, phòng ngừa chung.
3 Về tình tiết giảm nhẹ: Hội đồng xét xử xem xét tình tiết: bị cáo nhân thân tốt, chưa tiền án tiền sự, lần đầu phạm tội. Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tài sản đ được thu hồi trả lại cho người bị hại và người bị hại có đơn b i nại cho bị cáo. Xét yêu cầu của người bị hại là có căn cứ, Hội đồng xét xử giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo theo quy định tại điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
4 Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đ nhận lại tài sản và không có yêu cầu bị cáo bồi thường nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
5 Về tang vật của vụ án:
- Đối với xe gắn máy hiệu Honda biển số 66C1-447.41, qua xác minh xe do bị cáo đứng tên chủ sở hữu, 01 túi xách đeo chéo ghi chữ adidas xét đây là tài sản của cá nhân bị cáo nên Hội đồng xét xử trả lại cho bị cáo.
- Đối với điện thoại di động Iphone 6, xét đây là phương tiện bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 170, điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 106, Điều 135 và Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự;
Căn cứ Luật phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
1 Tuyên bố bị cáo Trần Giá L phạm tội Cưỡng đoạt tài sản”.
Xử phạt bị cáo: Trần Giá L 05 (Năm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 31/12/2018.
[2] Về xử lý vật chứng:
- Trả lại cho bị cáo: 01 xe máy hiệu Honda biển số 66C1-447.41 (xe đ qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng bên trong máy); 01 túi xách đeo chéo vai bằng vải, màu xanh đen, có chữ ADIDAS, đ qua sử dụng.
- Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước: 01gói niêm phong bên trong có 01 chiếc điện thoại di động Iphone 6 đ qua sử dụng, có số imei: 354448060257675 và 01 simcard (bên ngoài có chữ ký của Trần Giá L và hình dấu của Cơ quan CSĐT Công an quận Tân Bình);
(Theo phiếu nhập kho vật chứng số 85/PNK ngày 17/4/2019 của Công an quận Tân Bình)
3 Bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4 Trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân Tp. Hồ Chí Minh. Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - Bị cáo, bị hại; - Công an quận Tân Bình; - VKSND quận Tân Bình; - Chi cục THADS quận Tân Bình; - TAND, VKSND Tp. Hồ Chí Minh; - Phòng HSNVCS CA Tp. HCM; - Sở Tư pháp Tp. Hồ Chí Minh; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Tô Trần Ái Vy |