- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Hoàng V - Nguyễn Tấn K "Ly hôn""
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, bà Nguyễn Thị Hoàng V được ly hôn ông Nguyễn Tấn K.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA TỈNH PHÚ YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 106/2019/HNGĐ-ST Ngày: 28-11-2019 V/v: Tranh chấp “Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA - TỈNH PHÚ YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Lê Mai.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hà Trọng Khá và bà Đào Thị Ngâm.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Lệ Siêng – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Hưng – Kiểm sát viên.
Vào lúc 14 giờ 00 phút, ngày 28 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 363/2019/TLST-HNGĐ ngày 26/8/2019 về tranh chấp“Ly hôn”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 103/QĐXX-ST ngày 28/10/2019, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Hoàng V, sinh năm: 1984;
Địa chỉ: khu phố B, phường P, T, Phú Yên.
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Tấn K, sinh năm: 1982;
Địa chỉ: khu phố B, phường P, T, Phú Yên.
Nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn xin ly hôn và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hoàng V trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà (V) và ông Nguyễn Tấn K tự nguyện tìm hiểu và đi đến kết hôn, có đăng ký kết hôn tại UBND phường P, thành phố T, Phú Yên vào năm 2007. Quá trình chung sống vợ chồng sống rất hạnh phúc, đến tháng 10/2016 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do bà phát hiện được chồng có người phụ nữ khác. Kể từ đó đến nay chồng bà sống ở bên ngoài, rất ít khi về nhà, không chăm lo cho gia đình. Từ tháng 10/2017 đến tháng 10/2018 bà về nhà cha mẹ đẻ ở và đi làm xa. Đến tháng 11/2018, chồng bà đón về và hứa làm lại từ đầu, không đi sống ở ngoài nữa và chăm lo cho gia đình để bù đắp lại cho bà. Nhưng sau đó, ông K vẫn thường xuyên đi qua đêm không về, không chăm lo cho gia đình. Gia đình hai bên đã khuyên giải nhiều lần nhưng không được. Nay thấy mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, không thể sống chung được nữa nên bà làm đơn xin được ly hôn với ông K.
- Về con chung: có 02 con chung là Nguyễn Bình Khánh V, sinh ngày 30/5/2008 và Nguyễn Bình Bảo V, sinh ngày 16/9/2010. Hiện các con đang sống chung với ông bà. Ly hôn bà xin nuôi hai con, không yêu cầu ông K cấp dưỡng.
- Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết.
- Về nợ chung: Không có.
* Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không có mặt nên không có lời khai và không tiến hành hòa giải được.
* Tại phiên tòa:
Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định pháp luật; bị đơn không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về việc giải quyết vụ án: đề nghị HĐXX áp dụng Điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn và nuôi con chung của nguyên đơn; về tài sản chung: không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Bị đơn ông Nguyễn Tấn K đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt và có ý kiến xin giải quyết vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
Xét nội dung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hoàng V và bị đơn ông Nguyễn Tấn K tự nguyện tìm hiểu và đi đến kết hôn, có đăng ký kết hôn tại UBND phường P, thành phố T, Phú Yên theo Giấy chứng nhận kết hôn số 151 ngày 27/7/2007, là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn như nguyên đơn trình bày và đã được hai bên gia đình hòa giải nhiều lần nhưng không được, vợ chồng không còn quan tâm, chăm sóc nhau. Bị đơn ông Nguyễn Tấn K đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không đến Tòa để giải quyết là bỏ mặc, không muốn hàn gắn cuộc sống hôn nhân. Xét thấy, mâu thuẫn của vợ chồng đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn được ly hôn với bị đơn.
Về con chung: có 02 con chung là Nguyễn Bình Khánh V, sinh ngày 30/5/2008 và Nguyễn Bình Bảo V, sinh ngày 16/9/2010. Hiện các con đang sống cùng cha mẹ. Ý kiến của hai con khi cha mẹ ly hôn là được sống với nguyên đơn. Do đó, ly hôn nguyên đơn xin được nuôi hai con chung và không yêu cầu bị đơn cấp dưỡng nuôi con là có căn cứ, phù hợp với quy định pháp luật và nguyện vọng của các con nên HĐXX chấp nhận.
Về tài sản chung: Không yêu cầu nên HĐXX không xem xét.
Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, bà Nguyễn Thị Hoàng V được ly hôn ông Nguyễn Tấn K.
- Về con chung: Giao 02 con chung là Nguyễn Bình Khánh V, sinh ngày 30/5/2008 và Nguyễn Bình Bảo V, sinh ngày 16/9/2010 cho nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hoàng V trực tiếp nuôi dưỡng. Bị đơn ông Nguyễn Tấn K không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- Về tài sản chung: Không xem xét.
Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 26, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hoàng V phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu số 0014858 ngày 26/8/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tuy Hòa.
Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Phú Yên; - Viện KSND thành phố Tuy Hòa; - Chi cục THADS thành phố Tuy Hòa; - Các đương sự; - UBND phường P, T; (Giấy CNKH số 151 ngày 27/7/2007) - Lưu hồ sơ vụ án. CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN Hà Trọng Khá Đào Thị Ngâm | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Lê Mai THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Lê Mai |