vanban.org

Bản án 106/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn anh Nguyễn Tấn T .

Về quan hệ hôn nhân: Cho anh Nguyễn Tấn T ly hôn với chị Lê Thị H . Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "vụ án hôn nhân và gia đình"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn anh Nguyễn Tấn T .
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÙ MỸ
TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 106/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 23-5-2019
V/v ly hôn, tranh chấp
về nuôi con khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ MỸ, TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Ông Văn Công Minh.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Hòa.

Bà Nguyễn Thị Phương Toàn.

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Dư là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Ông Hồ Thái Nguyên-Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 5 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 30/2019/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 02 năm 2019, về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 483/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 4 năm 2019, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Tấn T , sinh năm 1978; cư trú tại khu phố T Q N , thị trấn P M , huyện P M , tỉnh Bình Định; có mặt.

- Bị đơn: Chị Lê Thị Hường, sinh năm 1973; cư trú tại thôn K P , xã M T , huyện P M , tỉnh Bình Định; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 18 tháng 01 năm 2019, tại lời khai và tại phiên tòa nguyên đơn anh Nguyễn Tấn T trình bày: Anh và vợ của anh là chị Lê Thị H đăng ký kết hôn vào ngày 15 tháng 3 năm 2012 tại Ủy ban nhân dân thị trấn Phù Mỹ, huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định. Trước khi kết hôn, giữa anh và chị Lê Thị H tìm hiểu một thời gian rồi tự nguyện đăng ký kết hôn chứ không ai ép buộc, lừa dối. Sau khi kết hôn vợ chồng của anh sống chung với nhau tại nhà mẹ của chị Lê Thị H nhưng vợ chồng chỉ sống hạnh phúc một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn xuất phát từ việc vợ chồng của anh có quá nhiều bất đồng quan điểm trong công việc hằng ngày; vợ chồng sống chung nhưng không tìm được tiếng nói chung; tình cảm của vợ chồng không còn, ngày càng lạnh nhạt. Vì mâu thuẫn ngày càng trầm trọng nên năm 2015 anh và chị Lê Thị H không còn sống chung với nhau cho đến nay. Việc vợ chồng của anh mâu thuẫn đã được cha, mẹ hai bên hòa giải nhưng vợ chồng của anh vẫn không thể nào đoàn tụ. Nay quan hệ hôn nhân của vợ chồng anh đã mâu thuẫn trầm trọng, vợ chồng không còn tình cảm gì với nhau, mục đích của hôn nhân không đạt được nên anh yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Lê Thị H .

Trong thời gian chung sống vợ chồng của anh có một người con chung là cháu Nguyễn Hiền Thảo T , sinh ngày 12 tháng 10 năm 2014; hiện nay chị Lê Thị H đang trực tiếp nuôi dưỡng con chung; nếu Tòa án cho anh được ly hôn với chị Lê Thị H thì anh yêu cầu Tòa án giao con chung cho chị Lê Thị H trực tiếp nuôi dưỡng; anh tự nguyện cấp dưỡng nuôi con hàng tháng với số tiền 500.000 đồng, thời gian cấp dưỡng tính từ tháng 6 năm 2019 cho đến khi cháu Nguyễn Hiền Thảo T thành niên.

Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết tài sản chung của vợ chồng. Hiện nay vợ chồng của anh không phải thực hiện nghĩa vụ chung về tài sản nên anh không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ngoài ra anh không trình bày và yêu cầu gì thêm.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định đã tiến hành tống đạt Thông báo về việc thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoàn phiên tòa hợp lệ cho bị đơn chị Lê Thị H tham gia tố tụng theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng bị đơn chị Lê Thị H cũng không có mặt tại phiên tòa lần thứ hai mà không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan.Tại Biên bản lấy lời khai của đương sự ngày 11 tháng 3 năm 2019, chị Lê Thị H trình bày như sau: Về thời gian và điều kiện kết hôn giữa chị và anh Nguyễn Tấn T như anh Nguyễn Tấn T trình bày. Sau khi kết hôn, chị và anh Nguyễn Tấn T sống chung với nhau tại nhà mẹ của chị. Đến năm 2014, chị sinh con thì anh Nguyễn Tấn T không lo lắng, chăm sóc cho chị và con; chị và anh Nguyễn Tấn T không còn sống chung từ năm 2015 đến nay. Vì tình cảm vợ chồng giữa chị và anh Nguyễn Tấn T không còn nên anh Nguyễn Tấn T yêu cầu ly hôn, chị đồng ý ly hôn. Chị và anh Nguyễn Tấn T có một người con chung là cháu Nguyễn Hiền Thảo T , sinh ngày 12 tháng 10 năm 2014; hiện nay chị đang trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Chị yêu cầu Tòa án giao con chung cho chị trực tiếp nuôi dưỡng; chị không yêu cầu anh Nguyễn Tấn T cấp dưỡng nuôi con. Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung của vợ chồng. Hiện nay vợ chồng của chị không phải thực hiện nghĩa vụ chung về tài sản nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ngoài ra chị không trình bày và yêu cầu gì thêm.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Đối với Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; nguyên đơn thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa xét xử lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các điều 51, 56, 81, 82, 83, 84, 110, 116, 117 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh Nguyễn Tấn T , cho anh Nguyễn Tấn Tài được ly hôn với chị Lê Thị H ; giao con chung của anh Nguyễn Tấn T và chị Lê Thị H là cháu Nguyễn Hiền Thảo T , sinh ngày 12 tháng 10 năm 2014 cho chị Lê Thị H trực tiếp nuôi dưỡng; ghi nhận sự tự nguyện của anh Nguyễn Tấn T về việc anh Nguyễn Tấn T thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con hàng tháng với số tiền 500.000 đồng; thời gian cấp dưỡng tính từ tháng 06 năm 2019 cho đến khi cháu Nguyễn Hiền Thảo T thành niên. Anh Nguyễn Tấn T và chị Lê Thị H không tranh chấp về việc chia tài sản chung, nghĩa vụ về tài sản chung của vợ chồng và yêu cầu người khác thực hiện nghĩa vụ về tài sản nên đề nghị Hội đồng xét xử không xét.

Các tài liệu, chứng cứ do các đương sự giao nộp gồm: Trích lục kết hôn số 19/TLKH-BS của Ủy ban nhân dân thị trấn Phù Mỹ, huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định cấp ngày 17 tháng 01 năm 2019 (Bản sao); Giấy khai sinh của cháu Nguyễn Hiền Thảo T , sinh ngày 12 tháng 10 năm 2014 (Bản sao); bản photocoppy sổ hộ khẩu của hộ gia đình anh Nguyễn Tấn T ; bản photocoppy giấy chứng minh nhân dân của anh Nguyễn Tấn T .

Nguyên đơn anh Nguyễn Tấn T và bị đơn chị Lê Thị H đăng ký kết hôn vào ngày 15 tháng 3 năm 2012 tại Ủy ban nhân dân thị trấn Phù Mỹ, huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định. Anh Nguyễn Tấn T yêu cầu ly hôn với chị Lê Thị H ; chị Lê Thị H đồng ý ly hôn. Anh Nguyễn Tấn T và chị Lê Thị H đều thống nhất có một người con chung của là cháu Nguyễn Hiền Thảo T , sinh ngày 12 tháng 10 năm 2014 và thống nhất giao con chung cho chị Lê Thị H trực tiếp nuôi dưỡng; hiện nay chị Lê Thị H đang trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Hiền Thảo T . Chị Lê Thị H không yêu cầu anh Nguyễn Tấn T cấp dưỡng nuôi con nhưng anh Nguyễn Tấn T tự nguyện cấp dưỡng nuôi con hàng tháng với số tiền 500.000 đồng. Anh Nguyễn Tấn T và chị Lê Thị H không tranh chấp về việc chia tài sản chung, nghĩa vụ về tài sản chung của vợ chồng và yêu cầu người khác thực hiện nghĩa vụ về tài sản.

Chị Lê Thị H không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; không tham gia tố tụng tại phiên tòa mà không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Tranh chấp giữa các đương sự trong vụ án là tranh chấp về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Tại thời điểm thụ lý vụ án và hiện nay bị đơn chị Lê Thị H cư trú tại thôn K P , xã M T , huyện P M , tỉnh Bình Định nên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định.

Về thủ tục tố tụng: Bị đơn chị Lê Thị H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa xét xử lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt mà không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn chị Lê Thị H .

Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Tấn T và chị Lê Thị H đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Phù Mỹ, huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định theo Giấy chứng nhận kết hôn số 19 ngày 15 tháng 3 năm 2012. Việc kết hôn giữa anh Nguyễn Tấn T và chị Lê Thị H tuân theo các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều 8 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên hôn nhân giữa anh Nguyễn Tấn T và chị Lê Thị H là hợp pháp. Anh Nguyễn Tấn T yêu cầu ly hôn với chị Lê Thị H vì cho rằng vợ chồng của anh có quá nhiều bất đồng quan điểm trong công việc hằng ngày; vợ chồng sống chung nhưng không tìm được tiếng nói chung; tình cảm của vợ chồng không còn, ngày càng lạnh nhạt. Chị Lê Thị H cho rằng anh Nguyễn Tấn T không lo lắng, chăm sóc cho chị và con; anh Nguyễn Tấn T không có trách nhiệm với gia đình nên chị Lê Thị H đồng ý ly hôn với anh Nguyễn Tấn T . Hội đồng xét xử xét thấy, anh Nguyễn Tấn T yêu cầu ly hôn với chị Lê Thị H , chị Lê Thị H không yêu cầu đoàn tụ mà đồng ý ly hôn với anh Nguyễn Tấn T . Mặc dù Tòa án nhiều lần tiến hành hòa giải nhằm mục đích để vợ chồng anh Nguyễn Tấn T , chị Lê Thị H đoàn tụ với nhau nhưng chị Lê Thị H không đến Tòa án để tham gia hòa giải và tại phiên tòa hôm nay chị Lê Thị H tiếp tục vắng mặt, điều này chứng minh hôn nhân giữa anh Nguyễn Tấn T và chị Lê Thị H đã lâm vào trình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên theo quy định tại các điều 51, 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, cho anh Nguyễn Tấn T được ly hôn với chị Lê Thị H .

Về con chung: Anh Nguyễn Tấn T và chị Lê Thị H đều thống nhất có một người con chung của là cháu Nguyễn Hiền Thảo T , sinh ngày 12 tháng 10 năm 2014 và thống nhất giao con chung cho chị Lê Thị H trực tiếp nuôi dưỡng; hiện nay chị Lê Thị H đang trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Hiền Thảo T . Hội đồng xét xử xét thấy, sự thỏa thuận của anh Nguyễn Tấn T và chị Lê Thị H về người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn phù hợp quy định tại Điều 81của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên giao cháu Nguyễn Hiền Thảo T cho chị Lê Thị H trực tiếp trông nôm, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng.

Đối với việc cấp dưỡng nuôi con: Hội đồng xét xử xét thấy, tuy chị Lê Thị H không yêu cầu anh Nguyễn Tấn T cấp dưỡng nuôi con nhưng anh Nguyễn Tấn T tự nguyện cấp dưỡng nuôi con hàng tháng với số tiền 500.000 đồng, thời gian cấp dưỡng tính từ tháng 06 năm 2019 cho đến khi cháu Nguyễn Hiền Thảo T thành niên; việc anh Nguyễn Tấn T tự nguyện cấp dưỡng nuôi con phù hợp quy định tại Điều 82 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 và nhằm bảo đảm quyền lợi của cháu Nguyễn Hiền Thảo T nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện trên của anh Nguyễn Tấn T . Anh Nguyễn Tấn T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở, nhưng anh Nguyễn Tấn T không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con của chị Lê Thị H . Khi cần thiết anh Nguyễn Tấn T và chị Lê Thị H đều có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng nuôi con theo quy định tại các điều 84, 116, 117 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về tài sản chung và thực hiện nghĩa vụ về tài sản chung của vợ chồng: Anh Nguyễn Tấn T và chị Lê Thị H không tranh chấp về việc chia tài sản chung, nghĩa vụ về tài sản chung của vợ chồng và yêu cầu người khác thực hiện nghĩa vụ về tài sản nên Hội đồng xét xử không xét.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/PL-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc anh Nguyễn Tấn T phải chịu số tiền 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về yêu cầu ly hôn để sung vào công quỹ Nhà nước nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng mà anh Nguyễn Tấn T đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án 0000692 ngày 27 tháng 02 năm 2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định. Theo quy định tại điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/PL-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc anh Nguyễn Tấn T phải chịu số tiền 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về nghĩa vụ cấp dưỡng để sung vào công quỹ Nhà nước.

Ý kiến của Kiểm sát viên về việc giải quyết vụ án phù hợp với nhận định trên của Hội đồng xét xử.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các điều 51, 56, 81, 82, 83, 84, 110, 116, 117 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm c khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/PL-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn anh Nguyễn Tấn T .

1. Về quan hệ hôn nhân:

Cho anh Nguyễn Tấn T ly hôn với chị Lê Thị H .

Quan hệ hôn nhân giữa anh Nguyễn Tấn T và chị Lê Thị H theo Giấy chứng nhận kết hôn số 19 do Ủy ban nhân dân thị trấn Phù Mỹ, huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định chứng nhận ngày 15 tháng 3 năm 2012 chấm dứt kể từ ngày bản án này có hiệu lực pháp luật.

2. Về con chung:

Giao con chung của anh Nguyễn Tấn T và chị Lê Thị H là cháu Nguyễn Hiền Thảo T , sinh ngày 12 tháng 10 năm 2014 cho chị Lê Thị H trực tiếp trông nôm, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng; hiện nay chị Lê Thị H đang trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Hiền Thảo T .

Ghi nhận sự tự nguyện của anh Nguyễn Tấn T về việc anh Nguyễn Tấn T thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con là cháu Nguyễn Hiền Thảo T , sinh ngày 12 tháng 10 năm 2014 hàng tháng với số tiền 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng); thời gian cấp dưỡng tính từ tháng 06 năm 2019 cho đến khi cháu Nguyễn Hiền Thảo T thành niên.

Anh Nguyễn Tấn T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở, nhưng anh Nguyễn Tấn T không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con của chị Lê Thị H . Khi cần thiết chị Lê Thị H và anh Nguyễn Tấn T đều có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng nuôi con theo quy định tại các điều 84, 116, 117 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

3. Về tài sản chung và thực hiện nghĩa vụ về tài sản chung của vợ chồng: Anh Nguyễn Tấn T và chị Lê Thị H đều không tranh chấp về việc chia tài sản chung, nghĩa vụ về tài sản chung của vợ chồng và yêu cầu người khác thực hiện nghĩa vụ về tài sản nên Hội đồng xét xử không xét.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc anh Nguyễn Tấn T phải chịu số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về yêu cầu ly hôn để sung vào công quỹ Nhà nước nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) mà anh Nguyễn Tấn T đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000692 ngày 27 tháng 02 năm 2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định. Buộc anh Nguyễn Tấn T phải chịu số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về nghĩa vụ cấp dưỡng để sung vào công quỹ Nhà nước.

5. Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (Ngày 23 tháng 5 năm 2019). Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt, niêm yết hợp lệ.

6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Mỹ,

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA tỉnh Bình Định;

- Chi cục thi hành án dân sự huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định;

- Ủy ban nhân dân thị trấn Phù Mỹ, huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định;

- Các đương sự;

- Lưu hồ sơ vụ án;

Văn Công Minh

- Lưu Văn thư. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Mỹ,

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA tỉnh Bình Định;

- Chi cục thi hành án dân sự huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định;

- Ủy ban nhân dân xã Mỹ Hiệp, huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định;

- Các đương sự;

- Lưu hồ sơ vụ án;

Văn Công Minh

- Lưu Văn thư. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ