vanban.org

Bản án 106/2019/HNGĐ-ST — Tranh chấp về nuôi con, chia tài sản của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn hoặc hủy kết hôn trái pháp luật

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về nuôi con, chia tài sản của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn hoặc hủy kết hôn trái pháp luật — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con giữa bà Phạm Thanh T với ông Lê Nhật L"
  • Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 15 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ TÂN
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 106/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 17-10-2019
V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Triều.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Minh Trọn.

Bà Phạm Hồng Ân.

- Thư ký phiên tòa: Ông Châu Sơn Ca là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.

Ngày 17 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 318/2019/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 9 năm 2019 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 184/2019/QĐXXST-HNGĐ, ngày 27 tháng 9 năm 2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Phạm Thanh T, sinh năm 1979 (có mặt).

- Bị đơn: Ông Lê Nhật L, sinh năm 1977.

Cùng trú tại: Ấp T, thị trấn C, huyện P, tỉnh Cà Mau.

Ngày 05 tháng 9 năm 2019 ông Lê Nhật L có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện ngày 16 tháng 9 năm 2019 nguyên đơn bà Phạm Thanh T trình bày: Bà và ông Lê Nhật L tự nguyện chung sống với nhau vào năm 1999, nhưng không đăng ký kết hôn. Trong quá trình chung sống vợ chồng xảy ra mâu thuẫn không thể hàn gắn được và vợ chồng không còn chung sống từ năm 2012 đến nay. Bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Lê Nhật L. Trong quá trình chung sống bà và ông L có hai người con chung tên Lê Nhật Tr, sinh ngày 06 tháng 7 năm 2000 và Lê Nhật D, sinh ngày 30 tháng 6 năm 2006. Đối với Lê Nhật Tr đã trưởng thành và có khả năng lao động để nuôi sống bản thân nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Đối với Lê Nhật D đang do bà trực tiếp nuôi dưỡng, bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng Lê Nhật D, không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung tự thỏa thuận, nợ chung không có không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Tại bản tự khai ngày 16 tháng 9 năm 2019 ông Lê Nhật L trình bày: vào năm 1999 ông và bà Phạm Thanh T tự nguyện chung sống với nhau nhưng không có đăng ký kết hôn. Trong quá trình chung sống xảy ra nhiều mâu thuẫn và vợ chồng không chung sống với nhau từ năm 2012 đến nay. Ông đồng ý ly hôn theo yêu cầu của bà T. Ồng và bà T có hai người con chung tên Lê Nhật Tr, sinh ngày 06 tháng 7 năm 2000 và Lê Nhật D, sinh ngày 30 tháng 6 năm 2006. Đối với Lê Nhật Tr đã trưởng thành và có khả năng lao động để nuôi sống bản thân nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Đối với Lê Nhật D đang do bà T trực tiếp nuôi dưỡng, ông đồng ý giao Lê Nhật D cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng. Về tài sản chung tự thỏa thuận, nợ chung không có không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng: Bà Phạm Thanh T yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông Lê Nhật L, yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung. Do đó, đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” nên theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau. Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau thụ lý giải quyết theo thủ tục sơ thẩm là đúng thủ tục tố tụng.

Về sự vắng mặt của đương sự: ông Lê Nhật L là bị đơn đã có đơn đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt. Theo quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt ông Lê Nhật L.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thanh T và ông Lê Nhật L tự nguyện chung sống với nhau vào năm 1999 nhưng không có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên hôn nhân giữa bà T và ông L không được pháp luật thừa nhận. Do đó, Hội đồng xét xử không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Phạm Thanh T và ông Lê Nhật L.

Về quyền nuôi con chung: Trong quá trình chung sống bà Phạm Thanh T và ông Lê Nhật L có hai người con chung tên Lê Nhật Tr, sinh ngày 06 tháng 7 năm 2000 và Lê Nhật D, sinh ngày 30 tháng 6 năm 2006. Đối với Lê Nhật Tr đã trưởng thành và có khả năng lao động để nuôi sống bản thân nên không xem xét. Đối với Lê Nhật D đang do bà T trực tiếp nuôi dưỡng, bà T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng Lê Nhật D. Tại bản tự khai ngày 16 tháng 9 năm 2019 ông Lê Nhật L đồng ý giao con chung cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng. Xét thấy sự thỏa thuận giữa bà T và ông L là hoàn toàn tự nguyện, không trái đạo đức xã hội, không vi phạm điều cấm của luật và phù hợp với nguyện vọng của người con chung thể hiện tại bản tự khai ngày 16 tháng 9 năm 2019 của Lê Nhật D nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự thỏa thuận của bà T và ông L, giao người con chung tên Lê Nhật D, sinh ngày 30 tháng 6 năm 2006 cho bà Phạm Thanh T trực tiếp nuôi dưỡng. Ông L có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở. Bà T không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.

Về tài sản chung, nợ chung bà Phạm Thanh T và ông Lê Nhật L không yêu cầu Toà án giải quyết nên không xem xét.

Về án phí: Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm bà T phải chịu 300.000đ, bà T đã nộp tiền tạm ứng án phí 300.000đ được chuyển thu án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 điều 35; điểm a khoản 1 điều 39, Điều 147; Điều 228; Điều 271 và Điề u 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Áp dụng các Điều 9, Điều 14; Điều 15; Điều 53; Điều 81; Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình;

- Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

* Tuyên xử:

- Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Phạm Thanh T và ông Lê Nhật L.

- Về quyền nuôi con chung: Giao người con chung tên Lê Nhật D, sinh ngày 30 tháng 6 năm 2006 cho bà Phạm Thanh T trực tiếp nuôi dưỡng. Ông L có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở.

Về án phí: Bà Phạm Thanh T phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm 300.000đ, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ theo biên lai thu tiền số 0019472 ngày 16 tháng 9 năm 2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Tân; bà T đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

Án xử sơ thẩm, bà Phạm Thanh T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng ông Lê Nhật L có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

“Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

Cỡ chữ