- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Mạnh H - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Trần Mạnh H: 24 (hai mươi bốn) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐIỆN BIÊN PHỦ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐIỆN BIÊN Bản án số: 106/2018/HS-ST Ngày 12/11/2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐIỆN BIÊN PHỦ, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Tố Loan
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Việt Hà
2. Bà Nguyễn Thị Lan
- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Minh Thắng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Điện Biên Phủ tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hòa - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 11 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 103/2018/HSST ngày 04 tháng 10 năm 2018, quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 107/2018 /QĐXXST- HS ngày 30 tháng 10 năm 2018, đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Mạnh H; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 25 tháng 01 năm 1974, tại tỉnh Điện Biên. Nơi ĐKNKTT và chỗ ở trước ngày bị bắt: Tổ 10, phường N, thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 09/12 phổ thông; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Xuân T- sinh năm 1938 và bà Trần Thị K - sinh năm 1942; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án: 03 tiền án về tội "Trộm cắp tài sản"; Tiền sự: Không;
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 28/7/2018 đến nay bị cáo có mặt tại phiên toà.
* Người bị hại:
- Chị Lường Thị C - sinh năm 1996.
Nơi ĐKHKTT: Bản T, phường T, thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên (vắng mặt có lý do);
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án gồm:
- Chị Trần Thị Thu H- sinh năm 1986; Địa chỉ: C17, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên (vắng mặt có lý do);
- Ông Trần Xuân T - Sinh năm 1938.
Nơi ĐKHKTT: Tổ 10, phường N, thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên (vắng mặt có lý do);
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
1.Về hành vi phạm tội của bị cáo Trần Mạnh H:
Khoảng 11 giờ ngày 26/7/2018 Trần Mạnh H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave S, màu sơn; Đỏ- trắng- đen; biển kiểm soát 27P1- 009.94 đến khu vực tổ dân phố 15, phường M, thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên, mục đích tìm bạn. H phát hiện thấy xe mô tô của chị Lường Thị C, trú tại Bản T, phường T, thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên dựng ở lề đường gần cổng chào của tổ dân phố, trên yên xe có để 01 thùng cát tông, bên trong có 22 chai dầu gội và sữa tắm có tổng trị giá 1.558.000 đồng. H quan sát xung quanh thấy không có ai liền lén lút, bí mật bê thùng đựng dầu gội và sữa tắm để lên giá để hàng giữa xe mô tô của H rồi chở đến cửa hàng tạp hóa của chị Trần Thị Thu H ở C17B, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên. H lấy 02 chai sữa tắm cất vào cốp xe để sử dụng và bán 20 chai còn lại cho chị Trần Thị Thu H được 420.000 đồng. Đến sáng ngày 27/7/2018 H bị Công an phường M, thành phố Điện Biên Phủ ,tỉnh Điện Biên triệu tập về trụ sở Công an phường làm việc.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và khẳng định hành vi trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản" theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại bản kết luận định giá tài sản số: 76/QĐ ngày 27/07/2018 của Hội đồng định giá tài sản thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên xác định: 22 chai dầu gội, sữa tắm các loại bao gồm; 05chai sữa tắm TheBol, loại 226g/chai; 05chai sữa tắm TheBol, loại 318g/chai; 03chai sữa tắm TheBol Body Wash, loại 580g/chai; 03chai sữa tắm TheBol Wash, loại 338g/chai; 02 chai dầu gội và tắm dưỡng thể ONLINE KIDSPEAR, loại 500ml/chai; 01 chai dầu gội và tắm dưỡng thể BOBINI 2 trong 1, loại 660ml/chai; 01 chai dầu gội và tắm dưỡng thể BOBINI 3 trong 1, loại 330ml/chai; 01 chai dầu gội và tắm dưỡng thể BEBI KIDS BUBBLEGUM, loại 380ml/chai; 01 chai dầu gội và tắm dưỡng thể ONLINE KIDS BUBBLEGUM, loại 250ml/chai (tất cả đều chưa qua sử dụng). Tổng giá trị định giá là 1.558.000 (Một triệu năm trăm năm mươi tám nghìn) đồng.
Trong quá trình điều tra bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận của Hội đồng định giá và tại phiên tòa hôm nay bị cáo cũng không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận của Hội đồng định giá nêu trên.
Về vật chứng vụ án: Đối với 22 chai dầu gội và sữa tắm các loại gồm: 05 (Năm) chai sữa tắm nhãn hiệu TheBol loại 226g/chai; 05 (Năm) chai sữa tắm nhãn hiệu TheBol loại 318g/chai; 03 (Ba) chai sữa tắm nhãn hiệu TheBol Body Wash loại 580g/chai; 03 (Ba) chai sữa tắm nhãn hiệu TheBol Body Wash loại 338g/chai; 02 (Hai) chai dầu gội và tắm dưỡng thể nhãn hiệu ONLINE KIDS loại 500ml/chai; 01 (Một) chai dầu gội và tắm dưỡng thể nhãn hiệu BOBINI loại 660ml/chai; 01 (Một) chai dầu gội và tắm dưỡng nhãn hiệu BOBINI loại 330ml/chai; 01 (Một) chai dầu gội và tắm dưỡng thể nhãn hiệu BEBI KIDS BUBBLEGUM loại 380ml/chai; 01 (Một) chai dầu gội và tắm dưỡng thể nhãn hiệu ONLINE KIDS BUBBLEGUM loại 250ml/chai, tất cả đều chưa qua sử dụng.
Cơ quan điều tra đã trả lại cho bị hại là chị Lường Thị C; Sinh năm: 1996; Địa chỉ: Bản T, phường T, TP Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên chủ hữu tài sản. Sau khi nhận lại tài sản, chị C không yêu cầu bị cáo Trần Mạnh H bồi thường thiệt hại gì khác.
Đối với những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
Ngày 27/07/2018 chị Trần Thị Thu H giao nộp số tài sản mua của bị cáo H cho cơ quan điều tra gồm 20 chai dầu gội, sữa tắm các loại. Ngày 10/09/2018 Cơ quan điều tra đã trả lại cho bị hại là chị Lường Thị C, sau khi nhận lại tài sản, chị C không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại gì khác;
Cơ quan điều tra đã tạm giữ của H 02 chai sữa tắm bị cáo mang về dùng trong tổng số 22 chai dầu gội và sữa tắm mà bị cáo trộm cắp, ngày 10/9/2018 Cơ quan điều tra cũng đã trả lại cho bị hại là chị Lường Thị C.
Cơ quan Công an cũng tạm giữ của bị cáo 01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave S, màu sơn: Đỏ-Trắng- Đen, BKS: 27P1 - 009.94, số máy: 4441359, số khung: 463361, đã qua sử dụng, chủ sở hữu xe là ông Trần Xuân T; Địa chỉ: Tổ 10, phường N, TP Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên, ông T cho H mượn xe nhưng không biết H sử dụng xe vào việc phạm tội. Cơ quan đều tra đã trả lại xe cho ông Trần Xuân T, sau khi nhận lại tài sản, ông T không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại gì khác;
Đối với Chứng minh thư nhân dân mang tên Trần Mạnh H không liên quan đến vụ án, Cơ quan Điều tra đã trả lại cho ông Trần Xuân T (là bố đẻ của bị cáo, người được ủy quyền nhận hộ).
Đối với số tiền 420.000 đồng Bị cáo bán tài sản trộm cắp cho chị Trần Thị Thu H, Bị cáo đã chi tiêu cá nhân và mua ma túy sử dụng hết, Cơ quan điều tra không thu giữ được, chị H đã tự nguyện cho bị cáo và không yêu cầu bị cáo bồi thường.
Chị Trần Thị Thu H khi mua 20 chai dầu gội và sữa tắm các loại không biết đó là tài sản do bị cáo H trộm cắp mà có nên cơ quan công an không đề cập đến vấn đề xử lý.
Bản cáo trạng số: 72/CT- VKSTPĐBP ngày 03/10/2018 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Trần Mạnh H: Từ 18 tháng đến 24 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản".
Bị cáo là người nghiện ma túy, không có nghề nghiệp và thu nhập nên không có khả năng thị hành hình phạt bổ sung.
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu nên không đề cập giải quyết.
Về vật chứng vụ án: Cơ quan điều tra đã trả lại cho các chủ sở hữu nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.
- Về án phí: Áp dụng: Điều 136 BLTTHS năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bị cáo Trần Mạnh H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo nhất trí với quyết định truy tố của Viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng của bị cáo trước khi HĐXX nghị án: Bị cáo đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về tố tụng:
[1.1]. Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Cơ quan truy tố, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định pháp luật.
. Về sự vắng mặt của bị hại chị Lường Thị C; Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án là chị Trần Thị Thu H và ông Trần Xuân T:
Xét thấy chị C, chị H, ông T đã được triệu tập hợp lệ nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt. Trong quá trình điều tra, chị C, chị H, ông T đã có đầy đủ lời khai trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử căn cứ Khoản 1 Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự, xét xử vắng chị C, chị H và ông T theo quy định của pháp luật.
. Về nội dung:
. Xét hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai của bị cáo Trần Mạnh H, người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong quá trình điều tra và tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo, kết luận định giá và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Cụ thể: Khoảng 11 giờ ngày 26/7/2018 tại khu vực tổ dân phố 15, phường M, thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên, Trần Mạnh H đã có hành vi lén lút, bí mật chiếm đoạt tài sản của chị Lường Thị C với giá trị tài sản bị cáo trộm cắp là: 1.558.000 đồng và đã tiêu thụ số tài sản trộm cắp bằng cách bán lại cho người khác để có tiền chi tiêu cá nhân. Bị cáo có 03 tiền án về tội trộm cắp tài sản, cụ thể:
Ngày 12/7/2011 H bị Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ xét xử về tội Trộm cắp tài sản, áp dụng khoản 1 Điều 138, điểm o, b, p khoản 1 Điều 46, điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự xử phạt 24 tháng tù và 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm;
Ngày 08/6/2015 H bị Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ xét xử về tội Trộm cắp tài sản (Trị giá tài sản dưới 2.000.000 đồng), áp dụng khoản 1 Điều 138, điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự xử phạt 12 tháng tù và 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm;
Ngày 19/7/2017 H bị Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ xét xử về tội Trộm cắp tài sản (Trị giá tài sản dưới 2.000.000 đồng), áp dụng khoản 1 Điều 138, điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự xử phạt 09 tháng tù và 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. H chấp hành án đến tháng 01/2018 ra trại và đã chấp hành xong tiền án phí của 03 bản án.
Như vậy,Trần Mạnh H đã phạm tội mới khi chưa được xóa án tích. Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
…b) Đã bị kết án về tội này … chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;”
Hành vi trên của bị cáo được chứng minh tại: Đơn trình báo của người bị hại; Vật chứng thu giữ; Kết luận định giá; Lời khai của người bị hại, của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, hành vi trên của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”.
Trần Mạnh H là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự.
Từ những phân tích trên, khẳng định Viện kiểm sát nhân dân thành phố Điện Biên Phủ truy tố bị cáo Trần Mạnh H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là hoàn toàn đúng người, đúng tội và có căn cứ pháp luật.
. Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo Trần Mạnh H sinh ra và lớn lên tại tỉnh Điện Biên được gia đình nuôi dưỡng ăn học hết lớp 9/12 thì ở nhà. Năm 1990 bị cáo Trần Mạnh H bắt đầu sử dụng và nghiện chất ma túy. Ngày 28/9/1995, Trần Mạnh H bị Tòa án nhân dân huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định xử phạt 12 tháng tù về "Tội trộm cắp tài sản"; Ngày 20/11/1999 Trần Mạnh H bị Tòa án nhân dân thị xã Lai Châu, tỉnh Lai Châu nay là Tòa án nhân dân thị xã Mường Lay, tỉnh Điện Biên xử phạt 36 tháng tù về "Tội trộm cắp tài sản"; Ngày 18/5/2004, Trần Mạnh H bị tòa án nhân dân thị xã Lai Châu, tỉnh Lai Châu nay là Tòa án nhân dân thị xã Mường Lay, tỉnh Điện Biên xử phạt 42 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản"; Ngày 12/8/2009 Trần Mạnh H bị Tòa án nhân dân huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên đình chỉ vụ án hình sự "Trộm cắp tài sản" theo nghị quyết 33/2009/QH12; Ngày 12/7/2011 Trần Mạnh H bị tòa án nhân dân TP Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên xử phạt 24 tháng tù về "Tội trộm cắp tài sản"; Ngày 08/6/2015 Trần Mạnh H bị tòa án nhân dân TP Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên xử phạt 12 tháng tù về "Tội trộm cắp tài sản"; Ngày 19/4/2017 Trần Mạnh H bị tòa án nhân dân TP Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên xử phạt 09 tháng tù về "Tội trộm cắp tài sản". Ngày 20/01/2018 bị cáo H chấp hành xong án phạt tù về địa phương sinh sống vẫn không ăn năn hối cải, lười lao động, chưa được xóa án tích lại tiếp tục phạm tội "Trộm cắp tài sản".
Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để bị cáo có điều kiện lao động, học tập, cải tạo sửa chữa lỗi lầm để trở người công dân có ích cho gia đình và xã hội. Đồng thời đây cũng là điều kiện thuận lợi để bị cáo từ bỏ được ma túy sớm trở lại hòa nhập với gia đình và cộng đồng.
Bị cáo H không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, bố đẻ bị cáo được nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhì, mẹ đẻ bị cáo được nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng ba, nên đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo là có cơ sở để chấp nhận.
. Về hình phạt bổ sung:
Ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị áp dụng khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự, hình phạt bổ sung bằng hình thức phạt tiền, song xét bị cáo không có nghề nghiệp, không có tài sản riêng có giá trị nên không có khả năng thi hành. Do vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng vụ án và trách nhiệm dân sự:
Bị hại là chị Lường Thị C đã nhận lại toàn bộ tài sản, sau khi nhận lại tài sản, chị Chung không yêu cầu bị cáo Trần Mạnh H bồi thường về trách nhiệm dân sự; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave S, màu sơn: Đỏ-Trắng- Đen, BKS: 27P1 - 009.94, số máy: 4441359, số khung: 463361, đã qua sử dụng, là tài sản riêng của ông Trần Xuân T cho bị cáo mượn xe nhưng không biết H sử dụng xe vào việc phạm tội, Cơ quan Điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu;
Đối với số tiền 420.000 đồng bị cáo bán tài sản trộm cắp cho chị Trần Thị Thu H, bị cáo đã chi tiêu cá nhân và mua ma túy sử dụng hết, Cơ quan điều tra không thu giữ được, chị H tự nguyện cho bị cáo và không yêu cầu bồi thường, nên Hội đồng xét xử cần chấp nhận.
Đối với Chứng minh thư nhân dân mang tên Trần Mạnh H không liên quan đến vụ án, Cơ quan Điều tra đã trả lại cho ông Trần Xuân T (là bố đẻ của bị cáo, người được ủy quyền nhận hộ) là hợp lý.
Chị Trần Thị Thu H khi mua 20 chai dầu gội và sữa tắm các loại không biết đó là tài sản do bị cáo H trộm cắp mà có nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xử lý.
. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
1. Xử phạt bị cáo Trần Mạnh H: 24 (hai mươi bốn) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam (ngày 28/7/2018).
2. Về vật chứng: Chấp nhận biên bản về việc trả lại tài sản ngày 10/9/2018 của Cơ quan điều tra công an thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên cho người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo Trần Mạnh H phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (12/11/2018).
Người bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND TP Điện Biên Phủ; - VKSND tỉnh Điện Biên; - Những người tham gia tố tụng; - CA TP ĐB Phủ; - Hồ sơ THA hình sự; - Chi cục THADS TP ĐB Phủ; - Toà án ND tỉnh Điện Biên; - Lưu hồ sơ vụ án; - Sở tư pháp; - Lưu VP. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHÊN TÒA Trần Thị Tố Loan |