vanban.org

Bản án 106/2018/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương Tuyên án 30/10/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đặng Văn C và Bùi Đức P phạm tội "Trộm cắp tài sản".

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Đặng Văn C 12 tháng tù, thời hạn được tính kể từ ngày tạm giam 28/7/2018. Bị cáo Bùi Đức P 08 tháng tù, thời hạn được tính kể từ ngày tạm giam Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo C và P phạm tội "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đặng Văn C và Bùi Đức P phạm tội "Trộm cắp tài sản".
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN K
TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:106/2018/HS-ST
Ngày 30 - 10 - 2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K - TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hiền

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Bùi Quốc Huy

Bà Phạm Thị Chuộng

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Đức - Thư ký Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện K, tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Long - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 10 năm 2018, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện K xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 109/2018/TLST-HS ngày 05 tháng 10 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 110/2018/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 10 năm 2018 đối với bị cáo:

1.Đặng Văn C, sinh năm 1987. Tên gọi khác: Không; Nơi cư trú: Thôn T, xã Q, huyện K, tỉnh Hải Dương; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đặng Văn B và bà Bùi Thị Đ; Gia đình có 2 anh em, bị cáo là con thứ nhất. Tiền án: 01 tiền án: Tại bản án số 11/2017/HS-ST ngày 27/3/2017, Toà án nhân dân huyện K xử phạt 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Ngày 24/12/2017, C chấp hành xong hình phạt tù. Ngày 25/7/2017, C chấp hành xong phần thi hành án dân sự của bản án.

Tiền sự: Không

Nhân thân: Tại bản án số 03/2011/HSST ngày 27/01/2011, Toà án nhân dân huyện K xử phạt 04 năm 06 tháng tù về tội Cướp tài sản và tội Cưỡng đoạt tài sản. Ngày 25/4/2014, C chấp hành xong hình phạt tù. Ngày 26/4/2011, C chấp hành xong phần thi hành án dân sự của bản án.

Bị cáo bị bắt tạm giam tại Trại tạm giam Kim Chi - Công an tỉnh Hải Dương từ ngày 28/7/2018 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

2.Bùi Đức P, sinh năm 1980. Tên gọi khác: Không; Nơi cư trú: Thôn Trung Hòa, xã T, huyện K, tỉnh Hải Dương; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 07/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Bùi Đức V và bà Nguyễn Thị T; Gia đình có 3 anh em, bị cáo là con thứ hai. Tiền án: Không.

Tiền sự: Ngày 28/12/2017, P bị Công an huyện K xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 36/QĐ-XPHC. P chưa chấp hành xong khoản tiền phạt.

Bị cáo bắt tạm giam tại Trại tạm giam Kim Chi - Công an tỉnh Hải Dương từ ngày 28/7/2018 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Bà Ngô Thị H, sinh năm 1958

Địa chỉ: Xã Q, huyện K, tỉnh Hải Dương.

Vắng mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Bùi Đức B1, sinh 1979

Địa chỉ: Xã T, huyện K, tỉnh Hải Dương.

Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Chiều ngày 25/7/2018 tại bến đò thuộc xã T, huyện K, tỉnh Hải Dương, Đặng Văn C rủ Bùi Đức P đi trộm cắp tài sản. P đồng ý và điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Flyer, màu: nâu, biển số: 34F5 - 8765 (xe P mượn của anh họ là Bùi Đức B1, đăng ký xe mang tên: Nguyễn Văn C, trú tại: xã P, huyện T, tỉnh Hải Dương) chở C ngồi sau đi về thôn T, xã Q, huyện K, tỉnh Hải Dương. Khi đi qua nhà bà Ngô Thị H (là cô họ của C), C nhìn thấy tại sân nhà bà H có giàn treo tỏi và hành đã được phơi khô, bóc vỏ, cắt rễ và bó thành từng túm. C nảy sinh ý định trộm cắp hành nên bảo P tối quay lại lấy hành, P đồng. C cùng P đi vào một nhà hoang gần bến đò thuộc xã T, huyện K, tỉnh Hải Dương ngủ. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, P điều khiển xe mô tô trên chở C ngồi sau đi đến nhà bà H. Khi đến cổng nhà bà H, C, P đỗ xe thấy nhà bà H đã tắt điện, khóa cổng đi ngủ. P đứng ngoài cảnh giới, giữ cánh cổng cho C trèo vào trong nhà bà H, C trèo qua cổng đi vào trong sân đến chỗ giàn treo hành. C lấy các túm hành treo ở gian thứ hai của giá treo hành rồi đưa qua khe thoáng của cổng sắt cho P. P nhận cho vào bao tải dứa màu xanh (P và C nhặt trên đường đi). Sau khi đã lấy đầy bao hành, P để các túm hành ở giá để đồ của xe máy. Khoảng 15 phút sau, C trèo qua cổng ra ngoài đường. C điều khiển xe máy chở P ngồi sau ôm bao hành đi tìm nơi tiêu thụ. Khi C và P đi đến cổng làng A - xã H - huyện K - tỉnh Hải Dương thì bị lực lượng công an xã H kiểm tra, phát hiện, thu giữ: 01 bao dứa màu xanh bên trong chứa hành khô đã được cắt, nhặt sạch bó thành túm nhỏ; quản lý 01 xe mô tô nhãn hiệu Flyer, màu: nâu, biển số: 34F5 - 8765.

Tại B1 bản cân tịnh ngày 26/7/2018 xác định: Số hành có trọng lượng 73 kg không tính vỏ bao, khi cân tịnh hành khô ráo, đã được nhặt sạch sẽ và bó thành từng túm.

Tại bản Kết luận của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự- UBND huyện K số 51/HĐĐG ngày 26/7/2018, kết luận: 73 kg hành khô đã được cắt, nhặt sạch bó thành túm nhỏ trị giá 2.190.000 đồng.

Ngày 02/8/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K đã trả lại chị Ngô Thị H 73 kg hành khô, chị H không yêu cầu bồi thường về dân sự. Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Flyer, màu: nâu, biển số: 34F5 – 8765, anh Bùi Đức B1 mua lại của một người không quen biết ở Hải Dương. Xe đăng ký mang tên: Nguyễn Văn C, trú tại: xã P, huyện T, tỉnh Hải Dương, anh Chính khai đã bán lại cho một người không quen biết ở Hải Dương. Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau.

Quá trình điều tra, Đặng Văn C, Bùi Đức P đã khai nhận rõ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với B1 bản vụ việc, lời khai của người bị hại, vật chứng thu giữ, kết luận định giá được cùng các tài liệu liên quan đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện K thu thập có trong hồ sơ vụ án.

Tại cáo trạng số 111/CT-VKSKM ngày 05/10/2018, VKSND huyện K truy tố bị cáo Đặng Văn C và Bùi Đức P về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Đặng Văn C, Bùi Đức P vẫn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã nêu. Người bị hại giữ nguyên quan điểm đề nghị xem xét về trách nhiệm hình sự đối với bị cáo theo quy định của pháp luật. Về trách nhiệm dân sự: đã nhận được tài sản, không yêu cầu bồi thường dân sự.

Vị đại diện VKS thực hành quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đặng Văn C, Bùi Đức P phạm tội “Trộm cắp tài sản”, đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với bị cáo Đặng Văn C; áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với bị cáo Bùi Đức P, đề nghị xử phạt:

- Bị cáo Đặng Văn C từ 12 đến 15 tháng tù, thời hạn được tính từ ngày tạm giam 28/7/2018.

- Bị cáo Bùi Đức P từ 09 đến 12 tháng tù, thời hạn được tính từ ngày tạm giam 28/7/2018.

Ngoµi ra quan ®iÓm ®¹i diÖn VKS cßn ®Ò nghÞ H§XX xem xÐt, gi¶i quyÕt về vật chứng và ¸n phÝ theo quy ®Þnh cña ph¸p luËt.

C¨n cø vµo c¸c chøng cø vµ tµi liÖu ®· ® îc thÈm tra t¹i phiªn tßa, c¨n cø vµo kÕt qu¶ tranh luËn, trªn c¬ së xem xÐt ®Çy ®ñ toµn diÖn c¸c chøng cø, ý kiÕn cña KiÓm s¸t viªn, bÞ c¸o, bị hại.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện K, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện K, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo Đặng Văn C, Bùi Đức P vẫn khai nhận rõ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận của các bị cáo hoàn toàn phù hợp với B1 bản vụ việc, lời khai của người bị hại, vật chứng thu giữ, kết luận định giá và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ. Nên có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 23 giờ 00 phút ngày 25/7/2018, tại nhà chị Ngô Thị H ở thôn T, xã Q, huyện K, tỉnh Hải Dương, lợi dụng sơ hở, Đặng Văn C và Bùi Đức P đã có hành vi lén lút lấy 73kg hành của chị Ngô Thị H có trị giá 2.190.000 đồng. Do vậy, VKSND huyện K truy tố bị cáo Đặng Văn C và Bùi Đức P về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

Xét hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những trực tiếp xâm hại quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo hộ mà còn gây mất trật tự trị an xã hội nói chung và tại địa pH xã Q nói riêng. Nên đối với các bị cáo đều phải chịu trách nhiệm về hành vi và hậu quả của bị cáo đã gây ra mới đảm bảo tính giáo dục riêng và P ngừa chung.

Trong vụ án này, Đặng Văn C là người rủ rê trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội nên giữ vai trò chính, Bùi Đức P với vai trò đồng phạm thực hiện hành vi phạm tội tích cực.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Ngày 27/3/2017 Tại bản án số 11/2017/HS-ST, Toà án nhân dân huyện K xử phạt bị cáo Đặng Văn C 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. C chưa được xóa án tích, nay tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội nên cần áp dụng tình tiết tăng tặng “tái phạm” được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS; Đối với Bùi Đức P: Không.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo Đặng Văn C và Bùi Đức P đều đã thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình, nên đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ “người phạm tội thành khẩn khai báo” được quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 BLHS là phù hợp. Tuy nhiên với tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo nên cho dù có xem xét, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo đến đâu, cũng cần phải buộc bị cáo cách ly xã hội trong thời gian nhất định mới đủ đảm bảo tính giáo dục, cải tạo đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, người bị hại không yêu cầu, nên không đặt ra.

Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra, công an đã thu giữ 01 bao dứa màu xanh đã qua sử dụng, xét đây là vật không có giá nên cần tịch thu cho tiêu hủy là phù hợp.

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Flyer, màu: nâu, biển số: 34F5 – 8765, anh Bùi Đức B1 mua lại của một người không quen biết ở Hải Dương. Xe đăng ký mang tên: Nguyễn Văn C, trú tại: xã P, huyện T, tỉnh Hải Dương, anh C khai đã bán lại cho một người không quen biết ở Hải Dương. Hiện cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau, nên không đặt ra việc giải quyết trong vụ án.

Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu nộp án phí và lệ phí Tòa án thì các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm h khoản 1 Điều 52,điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS đối với Đặng Văn C.

Căn cứ khoản 1 Điều 173,điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS đối với Bùi Đức P.

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 46, điểm a khoản 1 §iÒu 47Bộ luật Hình sự năm 2015; kho¶n 1 vµ ®iÓm a kho¶n 2 §iÒu 106, khoản 2 Điều 136 BLTTHS; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu nộp án phí và lệ phí Tòa án.

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đặng Văn C và Bùi Đức P phạm tội "Trộm cắp tài sản".

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Đặng Văn C 12 tháng tù, thời hạn được tính kể từ ngày tạm giam 28/7/2018.

- Bị cáo Bùi Đức P 08 tháng tù, thời hạn được tính kể từ ngày tạm giam

28/7/2018.

Về biện pháp tư pháp: Tuyªn tÞch thu cho tiêu hủy tiêu hủy 01 bao dứa (Được thể hiện tại B1 bản giao nhận vật chứng ngày 10 /10/2018 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện K).

Về án phí: Buộc bị cáo Đặng Văn C và Bùi Đức P, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: ¸n xö s¬ thÈm c«ng khai có mÆt bÞ c¸o, vắng mặt bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Tòa án báo cho bị cáo biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc ngày bản án được niêm yết. Ngưêi cã quyÒn lîi nghÜa vô liªn quan chØ ®ưîc kh¸ng c¸o nh÷ng vÊn ®Ò trùc tiÕp liªn quan ®Õn quyÒn lîi, nghÜa vô cña m×nh. N¬i nhËn:

Cỡ chữ