vanban.org

Bản án 106/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử cho chị Phạm Thị T và anh Thạch Hoàng Đ ly hôn

Về con chung: Giao cho chị Phạm Thị T được tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng con chung là Thạch Hoàng Đ1, sinh ngày: 18/12/2006. Tạm miễn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Thạch Hoàng Đ do chị T không yêu cầu. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phạm Thị T ly hôn Thạch Hoàng D"
  • Tòa quyết gì? Xử cho chị Phạm Thị T và anh Thạch Hoàng Đ ly hôn
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐỊNH QUÁN
TỈNH ĐỒNG NAI
Bản án số:106/2018/HNGĐ-ST
Ngày 15/11/2018
V/v: “Ly hôn”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Mạnh Cƣờng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Sẩm Dắt Phắn

Bà Trƣơng Thị Lệ Thanh

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thành là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Định Quán.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán: Bà Nguyễn Thị Lan - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 11 năm 2018, Tòa án nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 334/2018/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 6 năm 2018 về việc: “Ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 119/2018/QĐST-HNGĐ ngày 15/10/2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 95/2018/QĐST-HPT ngày 31/10/2018, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Chị Phạm Thị T

sinh năm: 1983

Nơi cư trú: Tổ 1 ấp 8, xã Th, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai.

* Bị đơn: Anh Thạch Hoàng Đ

sinh năm: 1978

Nơi cư trú: Tổ 1 ấp 8, xã Th, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai.

(Anh Đ vắng mặt, chị T có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện ngày 22/5/2018, bản tƣờng trình, biên bản lấy lời khai cũng nhƣ tại phiên tòa nguyên đơn chị Phạm Thị T trình bày:

Chị Phạm Thị T và anh Thạch Hoàng Đ quen biết tìm hiểu nhau được khoảng một năm thì hai bên tự nguyện đi đến kết hôn, được Ủy ban nhân dân xã Th, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 01/3/2012. Đây là hôn nhân lần đầu của chị T và anh Đ. Sau khi kết hôn vợ chồng sống đến khoảng năm 2014 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng làm ăn kinh tế thất bại dẫn đến nợ nần, kinh tế gia đình ngày càng khó khăn nên vợ chồng hay xảy ra cãi nhau. Chị T đã nhiều lần khuyên giải để anh Đ cố gắng làm ăn nhưng anh không nghe mà thường xuyên ăn nhậu và đánh đập chị. Một mình chị phải lo cho kinh tế gia đình. Mâu thuận vợ chồng đã được chính quyền địa phương và gia đình hòa giải nhiều lần nhưng không thành. Khoảng hai tháng nay chị T đã về nhà cha mẹ tại tổ 1 ấp 8, xã Th, huyện Định Quán để sinh sống, giữa vợ chồng không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau, mạnh ai nấy sống. Việc anh Đ đánh đập chị không để lại thương tích gì nên chị T không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết. Nay tình cảm vợ chồng không còn chị T xin ly hôn với anh Đ.

Về con chung: Chị T và anh Đ có 01 con chung là Thạch Hoàng Đ1, sinh ngày: 18/12/2006. Hiện nay con chung đang sống với chị T, khi ly hôn chị T yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết, bị đơn anh Thạch Hoàng Đ đã đƣợc Tòa án thông báo về việc thụ lý vụ án; đƣợc triệu tập hợp lệ để làm việc, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo quy định của pháp luật nhƣng anh Đ không đến Tòa án làm việc và cũng không có văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về tố tụng:

Về việc xét xử vắng mặt bị đơn: Tòa án đã tống đạt hợp lệ quyết định hoãn phiên tòa số: 95/2018/QĐST-HNGĐ, ngày 31/10/2018 cho bị đơn anh Thạch Hoàng Đ nhưng tại phiên tòa hôm nay anh Đ vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b, khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn.

Về quan hệ pháp luật: Theo yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị T quan hệ pháp luật được xác định là “ Ly hôn” được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn anh Thạch Hoàng Đ có nơi cư trú tại tổ 1 ấp 8, xã Th, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai nên theo quy định tại điểm a, khoản 1 Điều 35 và điểm a, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án nhân dân huyện Định Quán có thẩm quyền giải quyết.

Về xác định tư cách đương sự: Căn cứ Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự xác định chị Phạm Thị T là nguyên đơn, anh Thạch Hoàng Đ là bị đơn trong vụ án.

Về điều luật áp dụng: Căn cứ vào thẩm quyền giải quyết, quan hệ pháp luật, tư cách đương sự, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, án phí và quyền kháng cáo nên áp dụng các Điều 28, 35, 39, 68, 147, 227 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 09, 10, 11 và 12 Luật hôn nhân gia đình năm 2000; Điều 51, 56, 81, 82, 83 và 84 Luật hôn nhân gia đình năm 2014.

Về đường lối giải quyết vụ án: Quan hệ hôn nhân giữa chị Phạm Thị T và anh Thạch Hoàng Đ khi kết hôn trên cơ sở tự nguyện không vi phạm các điều kiện kết hôn theo luật định, được Ủy ban nhân dân xã Th, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 01/3/2012 (BL 07) theo quy định tại Điều 9, 10, 11 và 12 Luật Hôn nhân gia đình năm 2000 nên đây là hôn nhân hợp pháp và được pháp luật bảo hộ.

Trong cuộc sống hôn nhân theo chị T giữa vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi nhau và đánh nhau. Chị T và anh Đ không còn sống chung, không còn thực hiện quyền và nghĩa vụ chung của vợ chồng (BL 01, 17, 18). Điều này phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án (BL 20, 21). Qúa trình giải quyết vụ án, từ khi thụ lý đến nay Tòa án đã nhiều lần triệu tập anh Đ để làm việc, hòa giải và tham gia phiên tòa theo quy định của pháp luật nhưng anh Đ đều vắng mặt không có lý do nên Tòa án không thể tiến hành hòa giải được. Điều này cho thấy anh Đ không có thiện chí hòa giải để vợ chồng hàn gắn, đoàn tụ. Xét quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh Đ tình trạng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị T yêu cầu ly hôn với anh Đ là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 51, 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 nên được chấp nhận.

Về con chung:

Chị T và anh Đ có 01 con chung là Thạch Hoàng Đ1, sinh ngày 18/12/2006. Khi ly hôn, chị T yêu cầu được trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng con chung. Chị T không yêu cầu anh Đức cấp dưỡng nuôi con. Xét yêu cầu được nuôi con của chị T là có căn cứ, bởi lẽ, từ thời gian vợ chồng không còn sống chung đến nay cháu Đ1 đang sống với chị T, cuộc sống sinh hoạt việc ăn học của cháu Đ1 đã ổn định. Ngoài ra, cháu Đ1 có nguyện vọng được sống với chị T trong trường hợp cha mẹ không còn sống chung với nhau (BL 19). Từ những nhận định trên, căn cứ các Điều 81, 82, 83 và 84 Luật hôn nhân gia đình 2014 cần chấp nhận yêu cầu nuôi con của chị T.

Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã giải thích quy định của pháp luật về quyền được yêu cầu cấp dưỡng nuôi con và nghĩa vụ của người không nuôi con phải cấp dưỡng nuôi con trong trường giao con cho chị T được nuôi dưỡng nhưng chị T xác định đủ điều kiện kinh tế để nuôi con, không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con chung. Xét yêu cầu của chị T là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với Luật hôn nhân gia đình năm 2014 nên được chấp nhận.

Về tài sản: Các đương sự tự thỏa thuận, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí: Chị T phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ từ tiền tạm ứng án phí sang nộp án phí theo biên lai thu số 005552 ngày 29/6/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Định Quán.

Về quyền kháng cáo:

Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.

Ý kiến của Kiểm sát viên: Tòa án, người tiến hành tố tụng và nguyên đơn đã chấp hành nghiêm về quan hệ tố tụng, đảm bảo đúng trình tự, thủ tục tố tụng khi giải quyết vụ án. Bị đơn chưa chấp hành các quy định của pháp luật.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân, con chung và tài sản: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 và Điều 235 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng Điều 9, 10, 11 và 12 Luật hôn nhân gia đình năm 2000;

Áp dụng Điều 51, 56, 81, 82, 83 và 84 Luật hôn nhân gia đình năm 2014;

Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về án phí, lệ phí

Tuyên xử:

Xử cho chị Phạm Thị T và anh Thạch Hoàng Đ ly hôn

Về con chung: Giao cho chị Phạm Thị T được tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng con chung là Thạch Hoàng Đ1, sinh ngày: 18/12/2006.

Tạm miễn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Thạch Hoàng Đ do chị T không yêu cầu.

Khi ly hôn, pháp luật vẫn bảo hộ mọi quyền và nghĩa vụ của cha, mẹ đối với con chung (quyền đến thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung; quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn; quyền thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con …).

Về tài sản: Đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí: Chị Phạm Thị T phải chịu 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ từ tiền tạm ứng án phí sang nộp án phí theo biên lai thu số 005552 ngày 29/6/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai. Chị T đã nộp đủ án phí.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Báo cho nguyên đơn biết được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày Tòa án niêm yết./.

Cỡ chữ