- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của ông N H T:
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 1056/2019/HNGĐ-ST Ngày: 02/10/2019 V/v tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Văn Lưới. Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Văn Hào 2. Bà Phan Thị Tuyết Hằng
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Kim Ngân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh tham gia phiên tòa: Ông Đồng Văn Nam - Kiểm sát viên Ngày 02 tháng 10 năm 2019 tại Phòng xử án của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 179/2019/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 03 năm 2019 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 249/2019/QĐXXST-DS ngày 13/08/2019, Quyết định hoãn phiên tòa số 228/2019/QĐST-DS ngày 09/9/2019, giữa các đương sự: 1. Nguyên đơn: Ông N H T, sinh năm: 1982, (có mặt) Địa chỉ: xã Tân Kiên, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư Nguyễn Đức Thắng Ý – Công ty Luật trách nhiệm hữu hạn một thành viên Bình Chánh thuộc Đoàn luật sư Thành phố Hồ Chí Minh. 2. Bị đơn: Bà P T K P, sinh năm: 1987, (vắng mặt) Địa chỉ: xã Tân Kiên, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 19/02/2019 và trong quá trình xét xử nguyên đơn ông N H T trình bày:
Ông và bà P T K P tự nguyện T tới hôn nhân vào năm 2007, đôi bên có tìm hiểu, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tân Kiên, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến cuối năm 2016 thì giữa vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp. Do tình cảm đối với nhau không còn, mâu thuẫn không hàn gắn được nên ông yêu cầu được ly hôn với bà P.
Về con chung: có 02 con chung tên Nguyễn Thị KM, nữ, sinh ngày 15/02/2008 và Nguyễn Thanh T, nam, sinh ngày 28/01/2012. Khi ly hôn ông T yêu cầu nuôi dưỡng trẻ T, giao trẻ M cho bà P nuôi dưỡng và không bên nào cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn bà P T K P đã được Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng bà P vắng mặt không lý do.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn phát biểu ý kiến đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình để chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định của pháp luật và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
[1.1] Ông N H T yêu cầu ly hôn với bà P T K P. Đây là tranh chấp về ly hôn nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
Bị đơn cư trú tại địa bàn huyện Bình Chánh, nên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh.
Về việc xét xử vắng mặt bị đơn: Bà P T K P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt nên Tòa án T hành xét xử vắng mặt theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự 2015
Về yêu cầu của các đương sự, Hội đồng xét xử xét thấy như sau:
Về hình thức: Căn cứ vào giấy chứng nhận kết hôn số 143 do Ủy ban nhân dân xã Tân Kiên, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 11/10/2007 thì ông N H T và bà P T K P là vợ chồng được pháp luật công nhận.
Về nội dung: Xét lời trình bày của ông N H T nhận thấy giữa ông T với bà P trước khi kết hôn đã có thời gian quen biết và tìm hiểu nhau nên hôn nhân giữa đôi bên là hoàn toàn tự nguyện. Vợ chồng chung sống không có hạnh phúc do bất đồng quan điểm, tình tình không hợp và đã ly thân được hơn 02 năm nên ông T yêu cầu ly hôn với bà P để sớm ổn định cuộc sống. Việc này phù hợp với kết quả xác minh của Ủy ban nhân dân xã Tân Kiên, huyện Bình Chánh là hai vợ chồng đã ly thân không còn chung sống với nhau nữa.
Tòa án đã T hành triệu tập bà P T K P đến Tòa để lấy lời khai, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng bà P không đến. Hai lần triệu tập đến tham gia phiên Tòa bà P vẫn vắng mặt không lý do, cho thấy bà P đã không quan tâm đến tình trạng hôn nhân, không thiết tha trong việc hàn gắn tình cảm vợ chồng. Hội đồng xét xử thấy rằng giữa ông T và bà P có mâu thuẫn xảy ra trong cuộc sống, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, ông bà không thể cùng chung sống để xây dựng gia đình hạnh phúc nên ông T yêu cầu ly hôn với bà P là có cơ sở để chấp nhận theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
Về con chung: có 02 con chung tên Nguyễn Thị Kiều M, nữ, sinh ngày 15/02/2008 và Nguyễn Thanh T, nam, sinh ngày 28/01/2012. Xét lời trình bày của ông T, từ khi hai vợ chồng mâu thuẫn thì bà P đã dẫn trẻ M bỏ nhà đi cùng bà và không cho ông biết địa chỉ nơi sinh sống nên ông không cung cấp địa chỉ để Tòa án lấy ý kiến của trẻ M được. Hiện tại trẻ M đang sống cùng với bà P nên ông đồng ý để bà P tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng còn trẻ T đang sống với ông và nguyện vọng của trẻ T muốn được sống với ông nên ông yêu cầu tiếp tục được chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ T, không bên nào cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của ông T, giao trẻ Kiều M cho bà P trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, giao trẻ Thanh T cho ông T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình.
Ông N H T không yêu cầu bà P cấp dưỡng nuôi trẻ T, đây là sự tự nguyện và phù hợp pháp luật nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Ông N H T không đồng ý cấp dưỡng nuôi trẻ Kiều M. Bà P vắng mặt tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử không xem xét nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con của ông T. Nếu sau này bà P có yêu cầu sẽ khởi kiện bằng vụ án khác.
Ông T, bà P có quyền thăm nom, chăm sóc con chung không ai có quyền ngăn cản. Vì lợi ích con chung, khi cần thiết các bên có quyền xin thay đổi việc nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Ông T khai nhận không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, Tòa án không đặt ra để giải quyết.
Ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn và đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận
Từ những lý lẽ đã viện dẫn, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông N H T.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông N H T chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm ly hôn theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
Áp dụng Điều 51, 56, 57, 58 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Áp dụng Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014;
Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu của ông N H T:
1.1. Về quan hệ hôn nhân: Ông N H T được ly hôn với bà P T K P
Giấy chứng nhận kết hôn số 143 do Ủy ban nhân dân xã Tân Kiên, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 11/10/2007 không còn giá trị pháp lý
1.2. Về con chung: Giao trẻ Nguyễn Thị Kiều M, nữ, sinh ngày 15/02/2008 cho bà P T K P trực tiếp nuôi dưỡng. Giao trẻ Nguyễn Thanh T, nam, sinh ngày 28/01/2012 cho ông N H T trực tiếp nuôi dưỡng. Ông N H T và bà P T K P chưa phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
Ông N H T và bà P T K P có quyền thăm nom, chăm sóc con chung không ai có quyền ngăn cản. Vì lợi ích con chung, khi cần thiết các bên có quyền xin thay đổi việc nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.
1.3. Về tài sản chung, nợ chung: Ông N H T xác nhận không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Về án phí: Ông N H T chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm ly hôn nhưng được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng mà ông T đã nộp theo biên lai thu tiền số AA/2018/0006963 ngày 11/3/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh. Ông N H T đã nộp đủ án phí.
Thi hành tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.
3. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - TAND Thành phố Hồ Chí Minh; - VKSND Thành phố Hồ Chí Minh; - VKSND huyện Bình Chánh; - Chi cục THADS huyện Bình Chánh; - UBND xã Tân Kiên, H. Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh; - Lưu VP, hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Văn Lưới |