vanban.org

Bản án 1051/2023/DS-PT — Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 08/11/2023 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 08/11/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

C n cứ vào hoản 1 Điều 148, Điều 91, Điều 296, hoản 1 Điều 308 và Điều 313 của Bộ luật Tố t ng d n sự n m 2015; C n cứ vào Điều 26 của Luật Thi hành n d n sự n m 2008 (sửa đổi, bổ sung n m 2014); C n cứ vào điểm đ, hoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/20…

Không chấp nhận yêu cầu h ng c o của nguyên đơn bà Võ Thị Kim D. Giữ nguyên Bản n d n sự sơ thẩm số: 1834/2023/DS-ST ngày 12 th ng 6 n m 2023 và Quyết định sửa chữa, bổ sung bản n số: 3686/2023/QĐ–SCBSBA ngày 28/6/2023 của T a n nh n d n thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản — án dân sự — "Võ Thị Kim D"
  • Tòa quyết gì? C n cứ vào hoản 1 Điều 148, Điều 91, Điều 296, hoản 1 Điều 308 và Điều 313 của Bộ luật Tố t ng d n sự n m 2015; C n cứ vào Điều 26 của Luật Thi hành n d n sự n m 2008 (sửa đổi, bổ sung n m 2014); C n cứ vào điểm đ, hoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/20…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản n số: 1051/2023/DS-PT
Ngày: 08-11-2023
V/v Tranh chấp về ranh đất và yêu
cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp
đồng thuộc trường hợp tài sản bị
x m phạm

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lan Hương

Các Thẩm phán:

Bà Võ Thị Kim Thương

Bà Lê Thị Ngọc Hương

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hương - Thư T a n nh n d n Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Tào Minh Quân - Kiểm s t viên.

Ngày 08 th ng 11 n m 2023 tại Tr s T a n nh n d n Thành phố

Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công hai v n th l số: 352/2023/TLPT-DS ngày 02 th ng 10 n m 2023 về việc: “Tranh chấp về ranh đất và yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng thuộc trường hợp tài sản bị x m phạm”.

Do Bản n d n sự sơ thẩm số: 1834/2023/DS-ST ngày 12/6/2023 của T a n nh n d n thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh và Quyết định sửa chữa, bổ sung bản n số: 3686/2023/QĐ–SCBSBA ngày 28/6/2023 bị h ng c o.

Theo Quyết định đưa v n ra xét xử phúc thẩm số: 4810/2023/QĐPT-DS ngày 18/10/2023, giữa c c đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Võ Thị Kim D, sinh n m 1961

Địa chỉ: 7 Đường A, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Vũ Đình C, sinh n m 1954; địa chỉ: G Đường A, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

-Bị đơn: Bà Lê Thị Hồng A, sinh n m 1966

Địa chỉ: D (L2) P, Phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

-Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Vũ Đình C, sinh n m 1954

Địa chỉ: 7 Đường A, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Người kháng cáo: Bà Võ Thị Kim D là nguyên đơn.

(Ông C, bà A có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong Đơn h i iện, đơn h i iện bổ sung và c c lời hai trong qu trình giải quyết v n, nguyên đơn bà Võ Thị Kim D ủy quyền cho ông Vũ Đình C trình bày: Bà D là chủ s hữu của c n nhà số G Đường A, phường T, Quận B (nay là thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh (sau đ y gọi là nhà số G) theo Giấy chứng nhận quyền sử d ng đất, quyền s hữu nhà và tài sản h c gắn liền với đất số: CD 883771 do S Tài nguyên và Môi trường Thành phố H cấp ngày 27/9/2016. Chồng bà D là ông Vũ Đình C. Ông C đóng góp tiền và công sức x y dựng 90% c n nhà nêu trên.

Bà Lê Thị Hồng A là chủ s hữu c n nhà số E Đường A, phường T, Quận B (nay là thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh (sau đ y gọi là nhà số E) liền ề với nhà số G của bà D. Từ th ng 6/2019 bà A tiến hành x y dựng nhà số E. Trong qu trình x y dựng, phía bà A đã có những sai phạm g y ảnh hư ng đến nhà bà D, c thể cố tình x y lấn ranh sang nhà bà D hiến tường và hồ bơi nhà bà D bị nứt, tự cắt m i ngói nhà bà D để ph c v cho việc x y lấn ranh. Ngày 19/8/2019, Ủy ban nh n d n phường T, Quận B lập biên bản ghi nhận nội dung: “Qua iểm tra thực tế, tổ công t c ghi nhận hiện tại m i ngói nhà số G đã bị cắt, vết cắt hoảng 08m x 0,03m”. Bà D nhiều lần yêu cầu bà A chấm dứt việc x y dựng lấn ranh nhưng bà A hông chấm dứt. Bà D đã gửi đơn iến nghị đến Ủy ban nh n d n phường T, Quận B yêu cầu giải quyết. Ngày 27/8/2019, Ủy ban nh n d n phường có v n bản nhưng chỉ đưa ra phương hướng giải quyết chung chung mà hông x c định có hay hông việc bà A x y dựng lấn ranh dẫn đến việc bà A tiếp t c cắt ngói, đổ đà, x y tường p s t tường nhà bà D g y hư hỏng nghiêm trọng.

Việc lấn ranh x y dựng của bà A, về mặt đất chiều dài lấn ranh x y dựng trên 20m (tạm tính hoảng 23-24m) có ranh nối giữa hai nhà tường gạch, chiều rộng có chỗ tạm tính 10cm, chỗ 20cm và có chỗ 30cm, vì đất hẹp đầu và cuối nhưng phình đoạn giữa. Khi x y dựng bà A đã cho san phẳng và x y lấn ranh dưới ch n tường và đà xi m ng tr thành đất của bà A. Về hoảng hông gian bên trên, bà A tự cắt ngói nhà thờ nhà bà D, ngày 28/9/2019 tiếp t c cho cắt ngói, lấn ranh trên hông để đổ đà bê tông dưới tường nhà số G, đổ cột bê tông dính vào bê tông nhà số G là x m phạm chỗ hợp ph p, hủy hoại tài sản của bà D, diện tích lấn chiếm là 3.5m, trị gi 1m là 150.000.000 đồng.

Việc bà A x y nhà đã g y 11 vết nứt cho nhà số G có loại 1m, có loại 2m, có loại 3m xảy ra tường gi p nhà số E chủ yếu tầng 3 và tầng 4, c n tầng 1 và tầng 2 thì bà A đã cho x y bị mất dấu vết.

Ngày 03/3/2020, kính và tay vịn cầu thang từ tầng 1 lên tầng 4 (chủ yếu tầng 2 và tầng 3) của nhà số G vỡ và rơi xuống phải sửa chữa. Bà D nhờ công ty X iểm tra và được thông b o chi phí sửa chữa, hắc ph c là 100.000.000 đồng. Nay bà D h i iện yêu cầu T a n buộc bà A th o dỡ phần lấn ranh x y dựng tr i phép và bồi thường thiệt hại cho bà D số tiền là 100.000.000 đồng (một tr m triệu đồng).

Tại bản tự hai và trong qu trình giải quyết, bị đơn là Lê Thị Hồng A trình bày: Bà A đã ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn số: 227/QĐTTLH ngày 16/7/2004 của T a n nh n d n Quận 1. Bà A là chủ s hữu nhà, đất số 05 theo hợp đồng mua b n nhà và chuyển nhượng quyền sử d ng đất số: 014994 ngày 12/6/2012 tại Phòng C1, Thành phố Hồ Chí Minh giữa bà A với người chuyển nhượng là ông Nguyễn T và bà Phạm Thị Phương Á. Ngày 27/7/2012, bà A được cập nhật tên tại trang 3 của Giấy chứng nhận quyền s hữu nhà và quyền sử d ng đất số: 175/2002 ngày 07/02/2002 do Ủy ban nh n d n Quận B cấp. Ngày 05/6/2019, bà A bắt đầu tiến hành x y dựng nhà số E, hoàn thành việc x y dựng ngày 25/12/2019. Việc x y dựng nhà số E được thực hiện theo giấy phép số 285/GPXD-UBND ngày 17/4/2018, điều chỉnh giấy phép lần 1 ngày 16/5/2019 do Ủy ban nh n d n Quận B cấp. Bà A x c định hông x y dựng lấn ranh nhà số G, bà A x y dựng đúng theo giấy phép x y dựng đã được cấp và việc x y dựng nhà bà A không gây thiệt hại, hông g y mất an toàn vì trong qu trình x y dựng bà A đã liên hệ Trung t m đo đạc để thực hiện đo đạc hiện trạng vị trí – áp ranh, cắm mốc ranh theo Giấy chứng nhận số 175 nêu trên với sự chứng iến của Ủy ban nh n d n phường T và Đội thanh tra x y dựng địa bàn Q (nay là thành phố T). Đội thanh tra x y dựng địa bàn Quận B có hướng dẫn ông C liên hệ đơn vị có chức n ng thẩm định ết cấu công trình nhằm x c định có hay hông có việc nhà bà A g y thiệt hại cho nhà số G nhưng ông C hông thực hiện nên Đội thanh tra x y dựng địa bàn Quận B hông có cơ s giải quyết. Do vậy, với yêu cầu h i iện của nguyên đơn, bà hông đồng .

Tại bản tự hai và trong qu trình giải quyết v n, người có quyền lợi, nghĩa v liên quan ông Vũ Đình C trình bày: Ông là chồng của bà D. Ông thống nhất với iến, yêu cầu h i iện và yêu cầu h i iện bổ sung của bà D.

Tại Bản n d n sự sơ thẩm số: 1834/2023/DS-ST ngày 12/6/2023 của T a n nh n d n thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:

1/Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu h i iện của nguyên đơn bà Võ Thị Kim D về việc buộc bị đơn bà Lê Thị Hồng A th o dỡ phần lấn ranh x y dựng tr i phép và bồi thường thiệt hại cho bà Võ Thị Kim D số tiền là 100.000.000 đồng (một tr m triệu đồng).

2/Về n phí d n sự sơ thẩm và chi phí tố t ng h c: Bà Võ Thị Kim D được miễn n phí. Trả lại cho bà Võ Thị Kim D số tiền tạm ứng n phí đã nộp là 2.500.000 đồng (hai triệu n m tr m ngàn đồng) theo biên lai thu tạm ứng n phí, lệ phí T a n số: AA/2018/0027009 ngày 02/12/2019 và 12.500.000 đồng (mười hai triệu n m tr m ngàn đồng) theo biên lai thu tạm ứng n phí, lệ phí T a n số: AA/2018/0027174 ngày 24/12/2019 của Chi c c Thi hành n Quận 2 (nay là Chi c c Thi hành n thành phố Thủ Đức). Bà Võ Thị Kim D phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định gi là 5.000.000 đồng (n m triệu đồng); bà D đã nộp đủ.

Ngoài ra bản n c n tuyên về n phí, quyền h ng c o và quyền yêu

cầu thi hành n.

Ngày 27/6/2023, nguyên đơn là bà Võ Thị Kim D h ng c o toàn bộ bản n sơ thẩm, yêu cầu cấp phúc thẩm hủy bản n sơ thẩm.

Tại phiên t a phúc thẩm:

- C c đương sự hông thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết v

án.

- Ông Vũ Đình C - đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày: Bà D giữ nguyên yêu cầu h ng c o tại đơn h ng c o ngày 27/6/2023, đề nghị cấp phúc thẩm hủy bản n sơ thẩm, l do h ng c o, cấp sơ thẩm hông xem xét đầy đủ c c tài liệu, chứng cứ dẫn đến việc xét xử hông đúng ph p luật, có vi phạm nghiêm trọng thủ t c tố t ng g y thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp ph p của nguyên đơn, c thể:

T a n cấp sơ thẩm yêu cầu nguyên đơn bà Võ Thị Kim D tiến hành liên hệ và làm thủ t c và c c điều iện để hợp đồng đo đạc với Trung t m đo đạc thuộc S Tài nguyên và Môi trường Thành phố H để làm cơ s , c n cứ giải quyết v n;

Nguyên đơn đã liên hệ và làm c c thủ t c ph p l cần thiết và đã

hợp đồng với Trung t m đo đạc thuộc S Tài nguyên và Môi trường Thành phố H theo yêu cầu của T a n cấp sơ thẩm;

Ngày 14/12/2021, Trung t m đo đạc thuộc S Tài nguyên và Môi trường Thành phố H đã tiến hành đo đạc với sự chứng iến của đại diện T a n và đại diện Ủy ban nh n d n phường (có biên bản);

Tuy nhiên, T a n cấp sơ thẩm vẫn tiến hành xét xử hi chưa nhận được bản vẽ của Trung t m đo đạc thuộc S Tài nguyên và Môi trường Thành phố H là chưa xem xét đầy đủ c c tài liệu, chứng cứ g y thiệt hại đến quyền lợi, lợi ích chính đ ng và hợp ph p của nguyên đơn.

Ngoài ra, tại phiên t a ngày 07/6/2023, cấp sơ thẩm hoãn phiên t a, sau đó ngày 12/6/2023 xét xử vắng mặt ông C là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là hông có cơ s .

- Bị đơn bà Hồng A trình bày: Bà Hồng A hông đồng với yêu cầu h ng c o của nguyên đơn. Bà là chủ s hữu c n nhà số E, trong quá trình x y dựng nhà số E, bà đã x y dựng đúng giấy phép x y dựng, hông g y ảnh hư ng, thiệt hại đến nhà số G. Do vậy, đề nghị cấp phúc thẩm giữ nguyên bản n sơ thẩm của T a n nh n d n thành phố Thủ Đức vì bản n đã xét xử đúng quy định của ph p luật.

- Người có quyền lợi, nghĩa v liên quan ông C trình bày: Ông C đồng với h ng c o của nguyên đơn, đề nghị cấp phúc thẩm hủy bản n sơ thẩm, giao hồ sơ v n cho cấp sơ thẩm xét xử lại theo đúng quy định.

-Đại diện Viện Kiểm s t nh n d n Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu, đề nghị:

Về tố t ng: Từ hi th l v n cho đến hi có quyết định đưa v n

ra xét xử, Thẩm ph n thực hiện đúng theo quy định của ph p luật và tại phiên t a, Hội đồng xét xử thực hiện đúng theo trình tự Bộ luật Tố t ng d n sự n m 2015. Tại phiên t a c c đương sự chấp hành đúng theo quy định ph p luật.

Về nội dung: C n cứ vào c c tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ v n và lời hai của c c đương sự tại phiên t a phúc thẩm cho thấy, yêu cầu h ng c o của nguyên đơn là hông có cơ s nên đề nghị Hội đồng xét xử hông chấp nhận h ng c o của nguyên đơn. C n cứ vào hoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố t ng d n sự n m 2015 giữ nguyên Bản n d n sự sơ thẩm số: 1834/2023/DS-ST ngày 12/6/2023 của T a n nh n d n thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau hi nghiên cứu c c tài liệu có trong hồ sơ v n được thẩm tra tại phiên t a và c n cứ vào ết quả tranh t ng, tranh luận tại phiên t a, iến ph t biểu của Viện Kiểm s t, Hội đồng xét xử nhận định:

Về hình thức và thời hạn h ng c o, h ng nghị:

Ngày 27/6/2023, nguyên đơn bà Võ Thị Kim D kháng cáo toàn bộ bản n d n sự sơ thẩm. C n cứ theo quy định tại hoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố t ng d n sự 2015 thì đơn h ng c o của đương sự c n trong hạn luật định nên hợp lệ.

Về sự có mặt, vắng mặt của c c đương sự: Nguyên đơn là bà D vắng mặt và ủy quyền cho ông Vũ Đình C là người đại diện theo ủy quyền, đồng thời ông C là người có quyền lợi và nghĩa v liên quan, bị đơn bà Hồng A có mặt tại phiên t a. C n cứ vào Điều 296 Bộ luật Tố t ng d n sự n m 2015, T a n tiến hành xét xử v n theo quy định.

Về nội dung:

Nguyên đơn h ng c o yêu cầu cấp phúc thẩm hủy bản n do cấp sơ thẩm có vi phạm nghiêm trọng thủ t c tố t ng, l do tại phiên t a ngày 12/6/2023 cấp sơ thẩm xét xử v n hi vắng mặt ông C là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn đồng thời là người có quyền lợi, nghĩa v liên quan.

Xét, T a n nh n d n thành phố Thủ Đức ban hành Quyết định đưa v n ra xét xử số: 2123/2023/QĐXXST-DS ngày 09/5/2023, ấn định thời gian m phiên t a vào lúc 09 giờ 00 phút ngày 07/6/2023. Tại phiên t a, ông C là đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn đồng thời là người có quyền lợi, nghĩa v liên quan có mặt, bị đơn là bà A có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, diễn biến phiên t a đã ết thúc phần tranh luận. Sau đó, Hội đồng xét xử tạm dừng phiên t a và thông b o tiếp t c m phiên t a vào lúc 09 giờ 00 phút ngày 12/6/2023 (biên bản phiên t a ngày 07/6/2023 - bút l c 410 đến 413). Ngày 12/6/2023, T a n tiếp t c xét xử theo thông b o tạm dừng ngày 07/6/2023, ông C vắng mặt hông có l do, bà Hồng A có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Như vậy, T a n cấp sơ thẩm c n cứ vào Điều 227 Bộ luật Tố t ng d n sự n m 2015 xét xử vắng mặt ông C và bà A là đúng quy định của ph p luật.

Do vậy, h ng c o của nguyên đơn cho rằng cấp sơ thẩm vi phạm nghiêm trọng thủ t c tố t ng là hông có cơ s chấp nhận.

Nguyên đơn h ng c o yêu cầu cấp phúc thẩm hủy bản n do cấp sơ thẩm hông xem xét đầy đủ c c tài liệu, chứng cứ dẫn đến việc xét xử hông đúng ph p luật, g y thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp ph p của nguyên đơn, c thể cấp sơ thẩm xét xử v n hi chưa có bản vẽ hiện trạng do Trung t m đo đạc bản đồ thuộc S Tài nguyên và Môi trường Thành phố H lập là hông đúng quy định của ph p luật.

Xét, c n cứ vào c c tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ v n: Ngày 05/7/2021, T a n nh n d n thành phố Thủ Đức ban hành công v n số: 2737/TATPTĐ đề nghị bà D hợp đồng đo vẽ với Trung t m đo đạc bản đồ nhằm đo đạc, lập bản đồ hiện trạng nhà, đất số 07.

Ngày 14/12/2021, Trung t m đo đạc bản đồ đã tiến hành đo đạc ranh giới hiện trạng theo sự hướng dẫn ranh của ông C và ngày 29/3/2022, Trung t m đo đạc đã ph t hành bản đồ hiện trạng vị trí - p ranh số: 10164 –TTĐĐBĐ –VPQ2 (bút l c số 371). Bản đồ hiện trạng vị trí - áp ranh nêu trên đã được T a n cấp sơ thẩm công hai tại Biên bản về việc iểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công hai chứng cứ ngày 14/4/2023, phía ông C có tham gia phiên họp và tên vào biên bản nêu trên (bút l c số 388-390). Như vậy, ông C đại diện nguyên đơn trình bày h ng c o cho rằng cấp sơ thẩm xét xử hi chưa có bản vẽ hiện trạng là hông chính x c. Do vậy, h ng c o của nguyên đơn là hông có cơ s chấp nhận.

Xét yêu cầu h i iện của nguyên đơn đối với bị đơn.

Nguyên đơn h i iện bị đơn cho rằng bị đơn x y dựng nhà số E đã lấn ranh nhà số G của nguyên đơn.

Xét, c n cứ vào c c tài liệu, chứng cứ cũng như lời hai của c c đương sự trong hồ sơ v n thì c n nhà số 07 thuộc s hữu của bà D, ông C, còn nhà số E thuộc s hữu của bà A liền ề nhau. C c đương sự đều thống nhất x c định thời điểm th ng 6/2019, bà A bắt đầu tiến hành x y dựng nhà số E.

Theo ông C đại diện nguyên đơn trình bày: Trong qu trình x y dựng nhà số E, bà A có lấn ranh sang nhà số G của bà D đồng thời việc xây dựng g y hư hỏng tài sản của bà D nên yêu cầu bà A th o dỡ phần x y dựng lấn ranh x y dựng tr i phép và bồi thường thiệt hại cho bà D số tiền là 100.000.000 đồng.

Ngược lại, bị đơn là bà A trình bày: Bà A x y dựng theo đúng giấy phép x y dựng số: 285/GPXD-UBND ngày 17/4/2018, điều chỉnh giấy phép lần 1 ngày 16/5/2019 do Ủy ban nh n d n Quận B cấp, hi x y dựng hông lấn ranh nhà số G và việc x y dựng hông g y thiệt hại hoặc g y mất an toàn cho nhà số E của bà D. Vì trong qu trình x y dựng bà A đã liên hệ Trung t m đo đạc để thực hiện đo đạc hiện trạng vị trí – áp ranh, cắm mốc ranh theo Giấy chứng nhận được cấp với sự chứng iến của Ủy ban nh n d n phường T và Đội thanh tra x y dựng địa bàn Q (nay là thành phố T). Do vậy, bà A hông đồng với toàn bộ yêu cầu h i iện của nguyên đơn.

Hội đồng xét xử xét thấy: Trong qu trình thu thập chứng cứ, cấp sơ thẩm đã yêu cầu đại diện nguyên đơn x c định vị trí, phần diện tích mà bà D trình bày bị bà A lấn chiếm nhưng đại diện nguyên đơn hông x c định được vị trí, diện tích bị lấn chiếm (bút l c 26, bút l c 100).

C n cứ vào giấy chứng nhận quyền sử d ng đất, quyền s hữu nhà

và tài sản h c gắn liền với đất số: CD 883771 do S Tài nguyên và Môi trường Thành phố H cấp cho bà Võ Thị Kim D ngày 27/9/2016 (bút l c 167, 168), giấy thỏa thuận về việc x c định ranh giới nhà, đất ngày 13/7/1999 của bà L (bút l c 223), tờ đ ng nhà đất ngày 02/8/1999 (bút l c 222), tờ ê hai bổ sung ngày 02/8/1999 (bút l c 221), hiện trạng vị trí đất, vị trí nhà thuộc thửa số 86 được iểm tra ngày 15/10/2001 (bút l c 220), bản vẽ sơ đồ nhà đất ngày 20/02/2016 được Chi nh nh V n ph ng Đ iểm tra ngày 10/3/2016 (bút l c 211) và bản đồ hiện trạng vị trí - áp ranh số: 10164 –TTĐĐBĐ –VPQ2 ngày 29/3/2022 (bút l c số 371).

C n cứ vào giấy thỏa thuận về việc x c định ranh giới nhà, đất ngày 13/7/1999 của ông L1 (bút l c 197), tờ đ ng nhà đất của ông L1 ngày 30/7/1999 (bút l c 196), hiện trạng vị trí đất, hiện trạng nhà thuộc thửa số 83 được iểm tra ngày 08/02/2001 (bút l c 201), bản vẽ sơ đồ nhà, đất do Chi nhánh V n ph ng Đ iểm tra ngày 09/12/2019 (bút l c 180), bản đồ hiện trạng vị trí - p ranh số: 009843 –TTĐĐBĐ –VPQ2 (bút l c số 176) ngày 27/6/2019, giấy chứng nhận quyền s hữu nhà và quyền sử d ng đất số: 175/2002 ngày 07/02/2002 do Ủy ban nh n d n Quận B cấp cho ông Nguyễn V n L2 và bà Võ Ngọc M, cập nhật thay đổi sang tên bà Hồng A ngày 27/7/2012, ngày 25/02/2020 (bút l c 250-252).

Xét thấy, nhà số E, nhà số 07 trước hi bà D, bà A nhận chuyển nhượng của chủ cũ đều có tường riêng, giữa hai nhà hông có đất trống, thửa đất 07 có diện tích trùng hớp với phần đất mà bà D nhận chuyển nhượng từ bà L, diện tích nhà bà D được công nhận trùng với diện tích tại bản vẽ mà bà D được cấp phép x y dựng; nhà đất số E có mô tả 02 tường riêng dọc theo chiều dài của thửa đất trùng hớp với phần đất mà bà A nhận chuyển nhượng từ ông T1, bà Phương Á. Nhà số 07 x y dựng và hoàn thành x y dựng được công nhận phần x y dựng theo bản vẽ được cấp phép trước hi nhà số E hoàn thành việc x y dựng n m 2019.

Tại Công v n số 438/UBND ngày 27/8/2019 của Ủy ban nh n d n phường T, Quận B (nay là thành phố T) có ghi nhận: “Về việc x y dựng lấn chiếm ranh đất: Qua iểm tra hiện trạng Ủy ban nh n d n phường N thấy ranh xây dựng của nhà số E hiện hông có dấu hiệu lấn ranh nhà, đất số 07 (nhà số G có ranh tường bao)” (bút l c 111).

Do vậy, cấp sơ thẩm hông chấp nhận yêu cầu h i iện của bà D về việc h i iện của nguyên đơn cho rằng bị đơn x y dựng lấn ranh và buộc bị đơn th o dỡ phần x y dựng lấn ranh là có cơ s .

Nguyên đơn h i iện bị đơn cho rằng bị đơn x y dựng đã gây hư hỏng, thiệt hại tài sản của nguyên đơn.

C n cứ vào biên bản làm việc ngày 01/8/2019 của Ủy ban nh n d n phường T, Quận B (tại bút l c 260) ghi nhận mặt ngoài và mặt trong c c bức tường tiếp gi p nhà số E có c c vết rạn nứt và tất cả vết rạn nứt trên tổ công t c chưa x c định được thời điểm xảy ra sự cố (do c c vết rạn nứt đã bị đóng rêu). Để x c định chính x c công trình x y dựng nhà số E trong qu trình thi công g y ra c c vết rạn nứt đối với nhà số G. Tổ công t c đề nghị bà D liên hệ đến đơn vị ph p nh n về thẩm định sự cố công trình để có ết quả chính x c.

Để có cơ s xem xét, giải quyết yêu cầu của nguyên đơn, cấp sơ thẩm đã yêu cầu nguyên đơn cung cấp chứng cứ, tiến hành thu thập chứng cứ: Trưng cầu Công ty Cổ phần X (SCQC) thực hiện việc gi m định, iểm định đ nh gi chất lượng, x c định nguyên nh n g y hư hỏng, lập biện ph p dự to n hắc ph c hư hỏng nhà số G nhưng ông C đại diện nguyên đơn hông đồng . Ông C yêu cầu Trung tâm K (QUATEST 3) là đơn vị gi m định (bút l c 377). Tuy nhiên, ngày 19/3/2021, QUATEST 3 có v n bản trả lời về thủ t c gi m định đính èm ph l c nội dung công việc và chi phí gi m định (bút l c 317-318), T a n thông b o nhưng ông C hông đồng để QUATEST 3 thực hiện việc gi m định (bút l c 379).

Ngoài ra, theo ông C trình bày: Kính và tay vịn cầu thang nhà số G bị vỡ vào ngày 03/3/2020. Nhà số 05 hoàn thành việc x y dựng trước thời điểm xảy ra sự việc này, bà A đã được Chi nh nh V n ph ng đ ng đất đai chứng nhận thay đổi quyền s hữu đối với nhà c n nhà số E vào ngày 25/02/2020.

C n cứ vào hoản 1 Điều 91 Bộ luật Tố t ng d n sự n m 2015 quy định nghĩa v chứng minh: “Đương sự có yêu cầu T a n bảo vệ quyền và lợi ích hợp ph p của mình phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho T a n tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu đó là có c n cứ và hợp ph p”.

Tại hoản 4 quy định: “Đương sự có nghĩa v đưa ra chứng cứ để chứng minh mà hông đưa ra được chứng cứ hoặc hông đưa ra đủ chứng cứ thì T a n giải quyết v việc d n sự theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ v việc”.

Như vậy, nguyên đơn bà Võ Thị Kim D có yêu cầu h i iện nhưng hông chứng minh được nên cấp sơ thẩm hông chấp nhận toàn bộ yêu cầu h i iện của nguyên đơn là có c n cứ.

Từ những ph n tích và c n cứ quy định ph p luật nêu trên, xét thấy yêu cầu h ng c o của nguyên đơn là hông có cơ s . C n cứ vào hoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố t ng d n sự n m 2015, Hội đồng xét xử giữ nguyên Bản n d n sự sơ thẩm số: 1834/2023/DS-ST ngày 12 th ng 6 n m 2023 của T a n nh n d n thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh theo đề nghị của đại diện Viện Kiểm s t nh n d n Thành phố Hồ Chí Minh.

-Về chi phí tố t ng: Nguyên đơn phải nộp và đã nộp đủ.

-Về n phí d n sự phúc thẩm: Do nguyên đơn thuộc trường hợp người cao tuổi và có đơn đề nghị miễn n phí nên miễn n phí cho nguyên đơn. H lại tạm ứng n phí d n sự phúc thẩm cho nguyên đơn theo quy định.

Vì c c lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

C n cứ vào hoản 1 Điều 148, Điều 91, Điều 296, hoản 1 Điều 308 và Điều 313 của Bộ luật Tố t ng d n sự n m 2015; C n cứ vào Điều 26 của Luật Thi hành n d n sự n m 2008 (sửa đổi, bổ sung n m 2014); C n cứ vào điểm đ, hoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường v Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản l và sử d ng n phí và lệ phí T a n.

Tuyên xử:

1. Không chấp nhận yêu cầu h ng c o của nguyên đơn bà Võ Thị Kim D.

Giữ nguyên Bản n d n sự sơ thẩm số: 1834/2023/DS-ST ngày 12 th ng 6 n m 2023 và Quyết định sửa chữa, bổ sung bản n số: 3686/2023/QĐ–SCBSBA ngày 28/6/2023 của T a n nh n d n thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

2. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu h i iện của nguyên đơn bà Võ Thị Kim D về việc buộc bị đơn bà Lê Thị Hồng A th o dỡ phần lấn ranh x y dựng tr i phép và bồi thường thiệt hại cho bà Võ Thị Kim D số tiền là 100.000.000 đồng (một tr m triệu đồng).

3.Về chi phí tố t ng: Nguyên đơn phải chịu toàn bộ và đã nộp đủ.

4.Về n phí d n sự:

- Về n phí d n sự sơ thẩm: Bà Võ Thị Kim D được miễn n phí. H lại cho D số tiền tạm ứng n phí là 2.500.000 đồng (hai triệu n m tr m ngàn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng n phí, lệ phí T a n số: AA/2018/0027009 ngày 02/12/2019 và số tiền 12.500.000 đồng (mười hai triệu n m tr m ngàn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng n phí, lệ phí T a n số: AA/2018/0027174 ngày 24/12/2019 của Chi c c Thi hành n d n sự Quận 2 (nay là Chi c c Thi hành n d n sự thành phố Thủ Đức).

- Về n phí d n sự phúc thẩm: Bà Võ Thị Kim D được miễn tiền n phí. H lại cho bà D số tiền tạm ứng n phí 300.000 đồng (ba tr m ngàn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng n phí, lệ phí T a n số: AA/2023/0004247 ngày 12/7/2023 của Chi c c Thi hành n d n sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

Thi hành tại Cơ quan Thi hành n d n sự có thẩm quyền.

Trường hợp bản n, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành n d n sự, thì người được thi hành n d n sự, người phải thi hành n d n sự có quyền thỏa thuận thi hành n, quyền yêu cầu thi hành n, tự nguyện thi hành n hoặc bị cưỡng chế thi hành n theo quy định tại c c Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành n d n sự; thời hiệu thi hành n được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành n d n sự sửa đổi, bổ sung n m 2014.

Bản n phúc thẩm có hiệu lực ph p luật ể từ ngày tuyên n.

Cỡ chữ