- Tranh chấp gì? "Bùi Văn N và đồng bọn - phạm tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản (điều 134 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Huy H. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 48/2018/HSST ngày 24/7/2018 của Toà án nhân dân thị xã C, tỉnh Hải Dương về phần hình phạt đối với Nguyễn Huy H như sau:
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…; Điều 104 Bộ luật Hình sự
| toµ ¸n nh©n d©n tØnh h¶i d ¬ng | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| ----------- B¶n ¸n sè: 105/2018/HS-PT Ngµy: 07-11-2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT Q
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Với thành phần hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền.
Các thẩm phán:
Ông Nguyễn Mạnh Cường.
Ông Bùi Đăng Huy.
- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Vũ Bích Thuỷ - Cán bộ Toà án nhân dân tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Yến- Kiểm sát viên.
Ngày 07/11/2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương, mở phiên tòa xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 147/2018/TLPT-HS ngày 06 tháng 9 năm 2018, do có kháng cáo của các bị cáo đối với bản án Hình sự sơ thẩm số 48/2018/HSST ngày 24/7/2018 của Toà án nhân dân thị xã C, tỉnh Hải Dương.
Bị cáo kháng cáo:
1. Bùi Văn N, sinh ngày 16/11/1999.
Nơi ĐKHKTT và nơi cư trú: Khu dân cư T, phường B, thị xã C, tỉnh Hải Dương.
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 6/12;
Dân tộc: Kinh; Giới tính: Q; Tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Q;
Con ông: Bùi Văn I và và bà Nguyễn Thị L.
Tiền án,tiền sự; nhân thân: Không;
Bị tạm giữ từ ngày 22/10/2017 đến ngày 26/10/2017 bị tạm giam tại trại giam Kim Chi - Công an tỉnh Hải Dương.
2. Nguyễn Huy H, sinh năm 1994.
Nơi ĐKHKTT và nơi cư trú: Thôn H, xã Đ, thị xã C, tỉnh Hải Dương; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ văn hóa: 7/12.
Dân tộc: Kinh; Giới tính: Q; Tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Q;
Con ông: Nguyễn Huy C và bà Nguyễn Hải Y.
Tiền án,tiền sự; nhân thân: Không;
Bị tạm giữ từ ngày 21/11/2017 đến ngày 23/11/2017 bị tạm giam tại trại giam Kim Chi – Công an tỉnh Hải Dương.
3. Nguyễn Văn L, sinh năn 1993.
Nơi ĐKHKTT và nơi cư trú: Thôn N, xã D, thị xã C, tỉnh Hải Dương; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12.
Dân tộc: Kinh; Giới tính: Q; Tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Q;
Con ông: Nguyễn Văn Q và bà Trần Thị H.
Tiền án,tiền sự; nhân thân: Không;
Bị tạm giữ từ ngày 21/11/2017 đến ngày 23/11/2017 bị tạm giam tại trại giam Kim Chi – Công an tỉnh Hải Dương.
Các bị cáo không kháng cáo:
- Bùi Văn D, sinh năm 1996.
Nơi ĐKHKTT và nơi cư trú: Thôn G, xã T, thị xã C.
- Hà Tuấn Đ, sinh năm 1998.
Nơi ĐKHKTT và nơi cư trú: Khu dân cư H, phường B, thị xã C, tỉnh Hải Dương.
Người bị hại: Anh Nguyễn Văn V (tên gọi khác là P), sinh năm 1991 (đã chết).
Người đại diện hợp pháp của người bị hại: Bà Nguyễn Thị R, sinh năm 1962 (mẹ đẻ anh V) .
Trú tại: Khu dân cư K, phường V, thị xã C, tỉnh Hải Dương.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Tối ngày 20/10/2017, Bùi Văn N cùng Nguyễn Văn L và Hà Tuấn Đ ngồi uống nước tại quán nước của chị Bùi Thị A, sinh năm 1993, HKTT: Khu dân cư M, phường C, thị xã C, tỉnh Hải Dương, quán nước ở khu vực bờ hồ M thuộc Khu dân cư N, phường S, thị xã C, tỉnh Hải Dương thì có anh Vũ Văn X, sinh năm 1988, HKTT: Khu dân cư M, phường C đi cùng anh Nguyễn Văn V (tên gọi khác là P), sinh năm 1991, HKTT: Khu dân cư K, phường V, thị xã C đến uống nước, ngồi bàn được kê ở vỉa hè đối diện với bàn uống nước của nhóm N, Đ, L. Trong khi ngồi uống nước thấy nhóm của N, Đ, L nói chuyện to nên anh X nói với sang: “chúng mày nói bé thôi”, L đáp lại: “làm sao, đất nhà chúng mày à”, X trả lời: “chúng mày thích thì sang đây”, L trả lời: “làm sao tao phải sang”. Sau đó hai bên không nói gì với nhau nữa và ngồi uống nước thì L bảo Đ gọi điện cho Dương Văn Q, sinh năm 1994, HKTT: Thôn G, xã T, thị xã C đang ngồi ăn liên hoan cùng bạn tại nhà hàng Bên Hồ thuộc khu dân cư T, phường S, thị xã C. Khi Q nghe điện thoại, Đ nói với Q: “anh ra đây, bọn em có việc ngoài hồ”, Q đáp lại: “mày đang ở đâu”, nghe Đ trả lời: “bọn em đang ở cuối hồ” thì Q tắt điện thoại. Khi nhận được điện thoại của Đ, Q rủ Bùi Văn D đang ngồi ăn liên hoan đi cùng, lúc này Nguyễn Huy H có hỏi đi đâu thì Q nói: “ra chỗ N, Đ xem có việc gì”, nghe vậy H nói: “để tôi đi cùng”. Sau đó D điều khiển xe máy chở Q, H đi theo đường bờ hồ chỗ quán nước có N, Đ, L đang ngồi. Khi Đ gọi điện thoại cho Q xong thì L bảo Đ ra mở cốp xe máy của L ra, để gậy ba khúc bằng kim loại có thể rút ra, rút vào, với mục đích nếu có đánh nhau thì sẽ bỏ ra dùng. Khi Q, H, D vừa đi đến quán nước thì N đi ra xe máy của L lấy trong cốp xe chiếc gậy kim loại rồi chạy qua đầu xe máy của D sang đường vừa chạy vừa nói: “thằng này anh ơi”. Thấy N cầm gậy chạy sang đường, Q đứng tại vị trí D đỗ xe và nói: “từ từ đã, xem có phải anh em không”, ý muốn can N không được manh động đánh nhau nhưng N không nghe và chạy đến chỗ anh X, anh V đang ngồi, N dùng gậy kim loại vụt một cái vào người anh V, anh V dùng điếu cày đánh lại N, khi thấy anh X đứng dậy bỏ chạy thì N đuổi theo anh X xuống khu vực cống tràn cuối hồ Mật Sơn còn anh V chạy ngược lại về phía quảng trường Sao Đỏ. Khi anh V bỏ chạy được khoảng 20 m thì bị H chạy đuổi theo và túm, giữ vào áo anh V, thì D chạy phía sau tay phải rút 01 con dao (loại dao gấp dài khoảng 20 cm phần lưỡi dài khoảng 07cm màu đen trước đó D mua của một người bán hàng dong tại bến xe Giáp Bát – Hà Nội) đút trong túi quần chỉ về phía anh V thì H buông anh V ra và đi quay lại chỗ xe máy. Thấy D có dao anh V dùng tay túm lấy tay cầm dao của D, cùng lúc đó L và Đ lao đến dùng tay chân đá 1, 2 cái vào người anh V, bị đánh nên anh V buông tay cầm dao của D ra thì bị D dùng dao đâm một nhát vào đùi phải làm anh V bị thương ngã xuống gốc cây, đâm anh V xong thì D quay lại chỗ xe đứng cùng với H. N sau khi đuổi anh X không được thì quay lại dùng gậy kim loại và cùng với L, Đ dùng tay chân đấm, đá vào người anh V làm anh V phải ngồi dựa vào gốc cây. Lúc này Q đi đến can ngăn và nói: “thôi không đánh nữa đi về”. Thấy Q nói vậy thì Đ, L, N không đánh nữa quay lại lấy xe máy đi về. Khi đi qua cống tràn H, N nhìn thấy anh X đang đứng một mình nên H đi xe máy còn N chạy bộ đuổi theo anh X nhưng không đuổi được nên cả nhóm đi về. Sau khi bị đánh anh V được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa thị xã C, sau đó tử vong. Trên đường về khi đi đến đoạn cống cuối hồ thấy Đ bị thương ở tay thì D có nói: “chắc do anh đâm nhầm vào em rồi” nên D, L chở Đ vào bệnh viện đã khoa thị xã C để khâu vết thương. Tại đây do phát hiện anh V đã chết nên cả nhóm bỏ trốn đến ngày 22/10/2017, N, D; ngày 23/10/2017 Đ; ngày 21/11/2017 H, L ra đầu thú.
- Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã C đã thu giữ: 01 quần của anh Nguyễn Văn V loại quần đùi màu đen có sọc kẻ hai bên, ống quần phải có vệt cắt dọc từ gấu lên sát cạp quần, thân trước ống quần phải trên gấu 9,5 cm cách đường gấp ống trong 9cm có vết rách vải hai cạnh, cạnh dưới thẳng chếch dọc 45o dài 1,5 cm, cạnh trên hình cung ngang dài 5cm, mép vết rách sợi vải đứt gọn, thân trước và thân sau quần dính nhiều máu được thu giữ trong quá trình khám nghiệm tử thi; 01 hộp giấy niêm phong bên trong có 04 mẫu máu; 01 đôi dép quai ngang màu đen có sọc trắng trên quai và ngôi sao năm cánh màu trắng, trên dép dính nhiều vết máu, 01 đôi dép quai hậu có đế màu đen, viền màu da cam thu được trong quá trình khám nghiệm hiện trường; 01 túi xách bằng da màu đen kích thước (26 x 28)cm có dây đeo bằng vải sợi dài 01 m của N; 01 áo phông màu trắng loại áo ngắn tay cổ tròn, ngực áo có chữ PRADA màu đen, 01 đôi giày thể thao màu trắng có logo và dòng chữ NIKE màu vàng của D.
- Con dao gấp và gậy ba khúc các bị cáo D, N sử dụng vào việc phạm tội, quá trình bỏ trốn đã vứt đi, hiện không rõ ở đâu do vậy Cơ quan CSĐT công an thị xã C, tỉnh Hải Dương không có căn cứ truy tìm. Các bị cáo D, N, Đ, H, L đã tác động với gia đình bồi thường phần trách nhiệm dân sự cho người đại diện hợp pháp của người bị hại 200.000.000đ.
Tại bản Kết luận giám định pháp y số 574/KLGĐ ngày 23/10/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hải Dương đối với anh Nguyễn Văn V thể hiện:
- Vết thương mặt trước trong đùi phải, đứt hoàn toàn động mạch đùi phải; tổn thương này do vật sắc nhọn gây nên.
- Sây sát da nông vùng trán phải, bầm tím nông rải rác các đầu ngoài cung lông mày trái, bầm tím đầu ngoài mi trên mắt trái, sây sát da nông vùng trên sau vai trái là các tổn thương phần mềm do bị L tác động nhẹ bởi vật tày gây nên.
- N nhân chết: Mất máu cấp do vết thương đùi phải, đứt hoàn toàn động mạch đùi phải; Vết thương đứt động mạnh đùi phải một vết của anh Nguyễn Văn V nếu được phát hiện thật nhanh, được tổ chức cấp cứu thật khẩn trương và kịp thời thì có khả năng cứu sống được anh V.
Bản án Hình sự sơ thẩm số 48/2018/HSST ngày 24/7/2018 của Toà án nhân dân thị xã C, tỉnh Hải Dương đã quyết định: Áp dụng khoản 3 Điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999; Điểm d khoản 1 Điều 52; Điểm b,s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 90; Điều 91; Điều 98; Điều 101; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 về việc thi hành bộ luật hình sự năm 2015. Xử phạt Bùi Văn N 03 năm 09 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, thời hạn tính từ ngày bắt tạm giữ 22/10/2017.
Áp dụng khoản 3 Điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999; Điểm d khoản 1 Điều 52; Điểm b,s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 54; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 về việc thi hành bộ luật hình sự năm 2015. Xử phạt Nguyễn Huy H 04 năm 09 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”,thời hạn tính từ ngày bắt tạm giữ 21/11/2017.
Áp dụng khoản 3 Điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999; Điểm d khoản 1 Điều 52; Điểm b,s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 54; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 về việc thi hành bộ luật hình sự năm 2015. Xử phạt Nguyễn Văn L 03 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”,thời hạn tính từ ngày bắt tạm giữ 21/11/2017.
Ngoài ra bản án còn quyết định hình phạt đối với các bị cáo khác, quyết định về vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 06/8/2018, bị cáo Bùi Văn N kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Ngày 27/7/2018, bị cáo Nguyễn Huy H kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Ngày 06/8/2018, bị cáo Nguyễn Văn L kháng cáo xin được hưởng án treo.
Tại phiên tòa bị cáo Bùi Văn N và bị cáo Nguyễn Văn L xin rút đơn kháng cáo. Bị cáo Nguyễn Huy H vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương có quan điểm: Tại phiên tòa do bị cáo N và bị cáo L xin rút đơn kháng cáo, nên đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo N và L.
Đối với bị cáo Nguyễn Huy H là người có vai trò sau nhưng Tòa án cấp sơ thẩm đánh giá vai trò cao hơn so với L là không đúng. Do vậy đề nghị hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo. Sửa bản án sơ thẩm về phần hình phạt đối với bị cáo H. Xử phạt Nguyễn Huy H từ 4 năm đến 4 năm 3 tháng tù.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
1. Đối với bị cáo Bùi Văn N, Nguyễn Văn L kháng cáo nhưng đã rút đơn kháng cáo, nên Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo N và L.
2. Xét kháng cáo của bị cáo Nguyễn Huy H, Hội đồng xét xử thấy:
Tại phiên toà các bị cáo N, L, H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Cụ thể bị cáo L đã cùng với N, Đ có hành vi dùng chân tay đánh vào người anh Nguyễn Văn V; H đuổi theo túm áo giữ anh V; Bùi Văn N đã dùng gậy 3 khúc bằng kim loại và dùng tay chân đánh anh V. Bùi Văn D dùng dao gấp đâm vào đùi phải, làm anh V đứt hoàn toàn động mạch chủ đùi phải và bị tổn thương phần mềm. Hậu quả anh V bị chết. Các bị cáo đều khai nhận mục đích đánh anh V là do mâu thuẫn, không có mục đích tước đoạt tính mạng của anh V. Tại bản kết luận giám định pháp y số 574/KLGĐ ngày 23/10/2017 của phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Hải Dương kết luận: N nhân anh V chết là do mất máu cấp do vết thương đùi phải, đứt hoàn toàn động mạch đùi phải. Vết thương nếu được phát hiện thật nhanh, được tổ chức cấp cứu thật khẩn trương và kịp thời thì có khả năng cứu sống được anh V. Do vậy Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo về tội cố ý gây thương tích theo khoản 3 Điều 104 Bộ luật hình sự là có căn cứ.
Tuy nhiên trong vụ án này khi xem xét, phân hóa vai trò của các bị cáo, Tòa án cấp sơ thẩm chưa xem xét một cách khách quan, toàn diện dẫn đến việc đánh giá vai trò của bị cáo L và H chưa chính xác. Cụ thể trong vụ án này L là người tham gia tích cực. Là người chủ động bảo Đ gọi điện cho Q đến, vừa là người chỉ đạo Đ mở cốp xe trong đó có gậy sắt, với mục đích nếu 2 bên xảy ra xô sát thì sẽ sử dụng. L cũng là người tham gia tích cực cùng với các bị cáo khác trực tiếp đánh anh V và chỉ dừng lại khi anh Q bảo thôi không đánh nữa. Đối với H mặc dù H là người đuổi theo túm và giữ áo anh V, sau đó H đã bỏ tay giữ anh V và không tham gia đánh anh V. H cũng không giữ anh V để cho D dùng dao đâm. Do vậy vai trò của H trong vụ án không thể cao hơn so với L. Tòa án cấp sơ thẩm đánh giá H giữ vai trò thứ tư trong vụ án cao hơn vai trò của L là chưa chính xác. Do vậy Hội đồng xét xử sẽ xem xét giảm nhẹ 1 phần hình phạt đối với H.
Bị cáo Nguyễn Huy H kháng cáo được chấp nhận nên không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên cấp phúc thẩm không xem xét và đã có hiệu L pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Huy H. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 48/2018/HSST ngày 24/7/2018 của Toà án nhân dân thị xã C, tỉnh Hải Dương về phần hình phạt đối với Nguyễn Huy H như sau:
Áp dụng khoản 3 Điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999; Điểm d khoản 1 Điều 52; Điểm b,s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 54; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 về việc thi hành bộ luật hình sự năm 2015. Xử phạt Nguyễn Huy H 03 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”,thời hạn tính từ ngày bắt tạm giữ 21/11/2017.
Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Huy H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Áp dụng khoản 1 Điều 348 Bộ luật tố tụng Hình sự.
Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối bị cáo Nguyễn Văn L và bị cáo Bùi Văn N.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu L pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu L pháp luật từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: -VKSND tỉnh Hải Dương; -Phòng HSNV-Công an tỉnh Hải Dương; -Sở Tư pháp tỉnh Hải Dương; -TAND thị xã C; -VKSND thị xã C; -CQCSĐT- Công an thị xã C; -Chi cục THADS thị xã C; -Các bị cáo; -Lưu hồ sơ, lưu trữ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (đã ký) Nguyễn Thị Thu Hiền |