vanban.org

Bản án 105/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Luật Hôn nhân và gia đình;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị T ly hôn, tranh chấp nuôi con với anh U"
  • Tòa quyết gì? Luật Hôn nhân và gia đình;
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 105/2026/HNGĐ-ST
Ngày: 08/6/2026
“Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Bùi Văn Bảnh

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Thị Việt Hồng

Bà Nguyễn Ngọc Duyên

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Hồng Nhung - Thư ký Tòa án nhân dân

khu vực 7 - An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - An Giang tham gia

phiên tòa: Bà Lai Thị Ngọc Mãi - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 6 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 7 - An

Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 61/2026/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 02 năm 2026 về việc "ly hôn, tranh chấp nuôi con chung".

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 152/2026/QĐXXST- HNGĐ

ngày 07 tháng 5 năm 2026, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Phan Thị T, sinh năm 1989

Địa chỉ: ấp C, xã T, tỉnh Cà Mau.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn U, sinh năm 1986

Địa chỉ: ấp Đ, xã A, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Phan

Thị T trình bày: Năm 2009 chị và anh U chung sống với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Vợ chồng chung sống với nhau được thời gian ngắn thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh chị không hợp nhau về suy nghĩ, tính cách, thường xảy ra cự cãi, bất hòa. Anh U không chăm lo cho gia đình, vợ con, thường xuyên uống rượu bia, chửi mắng và hay đe dọa chị. Đỉnh điểm mâu thuẫn là vào năm 2025, anh U lấy hết nữ trang, đuổi chị ra khỏi nhà nên chị phải về nhà cha ruột ở và ly thân đến nay. Anh chị không còn tình cảm, không thể tiếp tục chung sống và xây dựng gia đình nên chị xin ly hôn để mỗi người có cuộc sống riêng.

Về con chung: Có 02 con chung là Nguyễn D, sinh ngày 26/12/2009 và

Nguyễn Ngọc Mỹ A, sinh ngày 07/6/2016, đang sống với anh U. Khi ly hôn chị có nguyện vọng được nuôi dưỡng Mỹ A, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Trường hợp con được chăm sóc, nuôi dưỡng tốt thì chị đồng ý để anh U tiếp tục nuôi dưỡng các con, chị được quyền đến thăm nom con theo quy định.

- Về tài sản chung: Chị xác định tự thỏa thuận, không phát sinh tranh

chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Chị xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn anh Nguyễn Văn U vắng mặt, không có lời trình bày.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - An Giang có ý kiến về việc

tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn chị T đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình, riêng bị đơn anh U vắng mặt tại phiên họp và phiên tòa lần thứ 2 mà không có lý do là chưa chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về hướng giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn cho chị T được ly hôn với anh U; tiếp tục giao con cho anh U trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng, tài sản chung, nợ chung không có yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại

phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Tòa án tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố

tụng nhưng anh U vắng mặt, không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa sơ thẩm nhưng anh U vắng mặt lần thứ hai không có lý do là chưa chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; chị T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử thống nhất áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vụ án vắng mặt chị T và anh U.

[2] Về quan hệ hôn nhân, chị T và anh U chung sống với nhau trên cơ sở

tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Cà Mau (nay là xã T, tỉnh Cà Mau) vào năm 2014 nên quan hệ hôn nhân của anh chị là hợp pháp, được pháp luật công nhận theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình.

[3] Nguyên nhân dẫn đến ly hôn, chị T cho rằng trong quá trình chung

sống vợ chồng có nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh chị không hợp nhau về suy nghĩ, tính cách, thường xảy ra cự cãi, bất hòa. Anh U không chăm lo cho gia đình, vợ con, thường xuyên uống rượu bia, chửi mắng và hay đe dọa chị. Đỉnh điểm mâu thuẫn là vào năm 2025, anh U lấy hết nữ trang, đuổi chị ra khỏi nhà nên chị phải về nhà cha ruột ở và ly thân đến nay. Còn anh U vắng mặt, không có ý kiến, không tham gia các phiên họp và phiên tòa sơ thẩm. Theo biên bản xác minh tại ấp Đ ngày 29/4/2026 thể hiện quá trình chung sống anh chị có phát sinh mâu thuẫn, đã ly thân.

Xét thấy, quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh U không đảm bảo theo quy

định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 về tình nghĩa vợ chồng, Hội đồng xét xử có căn cứ để cho rằng hôn nhân giữa anh chị lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Hơn nữa, anh chị đã sống ly thân nhau một thời gian dài nhưng không khắc phục được mâu thuẫn để vợ chồng tiếp tục chung sống nên không có khả năng đoàn tụ. Do đó, trong thảo luận nghị án, Hội đồng xét xử thống nhất chấp nhận ý kiến đề xuất của Kiểm sát viên, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T với anh U.

[4] Về con chung: Anh chị có 02 người con chung là Nguyễn D, sinh

ngày 26/12/2009 và Nguyễn Ngọc Mỹ A, sinh ngày 07/6/2016, đang sống với anh U, được chăm sóc, nuôi dưỡng tốt. Khi ly hôn chị T đồng ý để anh U tiếp tục nuôi dưỡng các con. Xét thấy, anh U đủ điều kiện để nuôi con, đồng thời cũng phù hợp với nguyện vọng và lợi ích của con nên Hội đồng xét xử chấp nhận để anh U được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng các con. Chị T có quyền, nghĩa vụ tới lui thăm nom, chăm sóc con chung theo quy định của pháp luật, không ai được quyền cản trở. Trường hợp anh U vi phạm nghĩa vụ nuôi con hoặc không còn đủ điều kiện nuôi con thì chị T có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Về cấp dưỡng, không ai yêu cầu nên Tòa án không xem xét.

[5] Về nợ chung: Chị T xác định không có, không yêu cầu Tòa án xem

xét, giải quyết.

[6] Về tài sản chung: Chị T xác định tự thỏa thuận, không tranh chấp,

không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

[7] Về án phí, nguyên đơn chị T phải chịu án phí ly hôn theo quy định là

300.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 147, Điều 207, khoản 2

Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 266, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng các Điều 9, Điều 19, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83

Luật Hôn nhân và gia đình;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của

Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Phan Thị T được ly hôn với anh Nguyễn

Văn U.

2. Về con chung: Tiếp tục giao cháu Nguyễn D, sinh ngày 26/12/2009 và

Nguyễn Ngọc Mỹ A, sinh ngày 07/6/2016 cho anh U trực tiếp nuôi dưỡng.

Chị T có quyền, nghĩa vụ tới lui thăm nom, chăm sóc con chung theo

quy định của pháp luật, không ai được quyền cản trở. Trường hợp anh U vi phạm nghĩa vụ nuôi con hoặc không còn đủ điều kiện nuôi con thì chị T có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc

gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Về cấp dưỡng, không ai yêu cầu nên Tòa án không xem xét.

3. Về nợ chung: Chị T xác định anh chị không có nợ chung nên không

yêu cầu xem xét, giải quyết.

4. Về tài sản chung: Chị T xác định tự thỏa thuận, không tranh chấp,

không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

5. Về án phí sơ thẩm: Chị T phải chịu án phí ly hôn là 300.000 đồng,

được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo lai thu số 301043 ngày 04/02/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh An Giang.

6. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền

kháng cáo bản án trong thời hạn là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2

Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ