- Tranh chấp gì? Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản — án dân sự — "Trần Huy T - Trần Văn H"
- Tòa quyết gì? Xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Huy T, bà Vũ Thị H1: Buộc anh Trần Văn H phải trả cho vơ chông ông bà số tiền nơ gốc là 50.
- Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 357 Bộ luật Dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - NINH BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 105/2026/DS - ST Ngày: 30 - 03 - 2026 “V/v tranh chấp hơp đông vay tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Trọng Ích
Các hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Thúy Mùi
2. Ông Lưu Văn Đê
- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thu Hiền - Thư ký Toà án nhân dân Khu vực 11 - Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 11 - Ninh Bình tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 03 năm 2026 tại trụ sở Toà án nhân dân Khu vực 11 - Ninh Bình mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 163/2025/TLST-TCDS ngày 29 tháng 10 năm 2025 về tranh chấp vay tài sản theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 62/2026/QĐXXST-TCDS ngày 13 tháng 03 năm 2026. giữa:
* Nguyên đơn: Ông Trần Huy T, sinh năm 1944; Địa chỉ: Thôn C Phúc T xã R tỉnh Ninh Bình.
* Bị đơn: Anh Trần Văn H, sinh năm 1971; Địa chỉ: Thôn C Phúc T xã R tỉnh Ninh Bình.
Người có quyền lơi nghĩa vụ liên quan:
- Bà Vũ Thị H1, sinh năm 1951; Địa chỉ: Địa chỉ: Thôn C Phúc T xã R tỉnh Ninh Bình.
- Chị Trần Thị L, sinh năm 1972; Địa chỉ: Địa chỉ: Thôn C Phúc T xã R tỉnh Ninh Bình.
Tại phiên tòa vắng mặt: Ông T, bà H1, anh H và chị L.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại phiên tòa hôm nay Nguyên đơn ông Trần Huy T vắng mặt lời khai của ông T tại các buổi làm việc với Tòa án thể hiện: Do có mối quan hệ bố con vào ngày 19/11/2020 vơ chông ông có cho vơ chông anh Trần Văn H, chị Trần Thị L vay số tiền là 100.000.000 đông (một trăm triệu đông), sau khi đưa tiền anh H có viết giấy biên nhận với nội dung “hôm nay ngày 19/11/2020 con. Có thuê của bố với số tiền 100.000.000 đông (một trăm triệu đông) với lãi xuất 6,6% năm trả lãi vào ngày 20 hàng tháng ký tên Trần Văn H, người chứng kiến Trần thị H2, Trần thị R, Trần văn T1”. Hai bên thỏa thuận miệng khi nào cần báo trước để vơ chông anh H sẽ sắp xếp trả. Kể từ khi nhận tiền đến hạn trả lãi anh H lại khất do là bố con nên ông cũng không đòi. Cuối năm 2021 do bị ốm cần tiền ông đã yêu cầu vơ chông anh H trả tiền gốc và lãi nhưng anh H khất, vơ chông ông đòi nhiều lần nhưng vơ chông anh H không trả do vậy ông đã làm đơn khởi kiện ra tòa buộc vơ chông anh H phải trả nơ cho vơ chông ông số tiền gốc là 100.000.000 đông, ông không yêu cầu trả lãi. Trong quá trình tòa án thụ lý giải quyết chị L đã nhận trả nơ cho vơ chông ông một nửa số nơ cụ thể số tiền 50.000.000 đông. Vơ chông ông và chị L đã thống nhất thỏa thuận xong. Nay ông xác định anh H còn nơ vơ chông ông số tiền 50.000.000 đông. Đề nghị Tòa án buộc anh Trần Văn H trả cho vơ chông ông số tiền 50.000.000 đông và không yêu cầu trả tiền lãi.
Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn anh Trần Văn H vắng mặt nhưng lời khai của anh H tại các buổi làm việc với Tòa án thể hiện: Anh xác định vơ chông anh có vay của ông T số tiền 100.000.000 đông để làm ăn, đây là khoản vay chung của vơ chông anh, nay ông T khởi kiện, yêu cầu anh phải trả nơ cho vơ chông ông bà số tiền 50.000.000 đông và không yêu cầu trả lãi, anh cũng nhất trí nhưng do vơ chông mỗi người một nơi, công việc của anh không ổn định, nên chưa có để trả nơ ngay, anh đề nghị ông T, bà H1 cho anh xin trả nơ dần.
Tại phiên tòa hôm nay, người có quyền lơi nghĩa vụ liên quan bà Vũ Thị H1 vắng mặt nhưng lời khai của bà H1 tại Tòa án thể hiện: bà nhất trí với ý kiến của ông T; Vơ chông bà có cho vơ chông anh H vay số tiền là 100.000.000 đông để làm ăn nhưng đến nay đòi nhiều lần nhưng vơ chông anh H không trả, nay chị L đã thỏa thuận với vơ chông bà trả một nửa là 50.000.000 đông và đã thỏa thuận trả xong. Nay bà đề nghị Tòa án buộc anh Trần Văn H trả cho vơ chông ông số tiền 50.000.000 đông và không yêu cầu trả tiền lãi.
Tại phiên tòa hôm nay, người có quyền lơi nghĩa vụ liên quan chị Trần Thị L vắng mặt nhưng lời khai của chị L tại Tòa án thể hiện: Chị xác định vơ chông chị có vay của ông T số tiền 100.000.000 đông để làm ăn, đây là khoản vay chung của vơ chông. Chị đã nhận trả nơ cho vơ chông ông T một nửa số nơ cụ thể là 50.000.000 đông giữa chị và vơ chông ông T đã thống nhất thỏa thuận xong. Việc ông T và bà H1 kiện đòi anh H phải trả cho ông bà số tiền 50.000.000 đông và không yêu cầu trả tiền lãi đó là việc riêng của mọi người chị không có ý kiến gì.
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên toà phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án đã đảm bảo đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự từ khi thụ lý vụ án, việc thu thập chứng cứ đến khi xét xử tại phiên toà.
Về nội dung: Căn cứ khoản 3 Điều 26, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 463, 466 Bộ luật dân sự; điểm b khoản 1 Điều 24, Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Huy T, buộc anh Trần Văn H có nghĩa vụ trả nơ cho ông T số tiền 50.000.000 đông, không phải trả lãi vay.
Về án phí: Căn cứ Điều 146 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án anh H phải chịu án phí dân sự theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hô sơ vụ án đươc thẩm tra tại phiên toà, Toà án nhận định:
Về tố tụng:
Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn, Bị đơn anh Trần Văn H và người có quyền lơi nghĩa vụ liên quan đều đăng kí hộ khẩu thường trú và cư trú tại: xã R, tỉnh Ninh Bình. Nay ông Trần Huy T có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp vay tài sản đối với anh Trần Văn H và Tòa án nhân dân Khu vực 11 - Ninh Bình thụ lý giải quyết là phù hơp với quy định tại khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Về sự có mặt vắng mặt của các đương sự: Tại phiên tòa, vắng mặt ông T, bà H1, anh H và chị L. Mọi người đều có đơn xin xét xử vắng mặt vì vậy Tòa án xét xử vắng mặt ông T, bà H1, anh H và chị L là phù hơp với quy định Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Căn cứ vào tài liệu chứng cứ cũng như lời trình bày của nguyên đơn, bị đơn trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà hôm nay xác định vơ chông anh Trần Văn H, chị Trần Thị L có vay của vơ chông ông Trần Huy T, bà Vũ Thị H1 số tiền là 100.000.000 đông (một trăm triệu) và có viết giấy biên nhận với nhau không xác định thời hạn trả nơ, lãi suất 6,6%/năm nên Hội đông xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án này là “Tranh chấp hơp đông vay tài sản” không kỳ hạn theo quy định tại Điều 469 Bộ luật Dân sự. Hai bên xác lập giao dịch dân sự từ năm 2020 nên áp dụng Bộ luật Dân sự năm 2015 để giải quyết vụ án.
Về nội dung vụ án: Các bên đương sự ông Trần Huy T, bà Vũ Thị H1 anh Trần Văn H và chị Trần Thị L đều thống nhất trên cơ sở là quan hệ bố con nên vơ chông ông T, bà H1 có cho vơ chông anh H, chị L vay số tiền là: 100.000.000 đông (một trăm triệu đông) để làm ăn. Hai bên thống nhất lãi 6,6%/năm trả vào ngày 20 hàng tháng. Do vơ chông anh H, chị L không trả lãi như thỏa thuận, ông T bà H1 đòi nhiều lần nhưng vơ chông anh H không trả nên vơ chông ông T khởi kiện. Trong quá trình giải quyết vụ án chị L và anh H đều thống nhất mỗi người phải trả cho ông T bà H1 số tiền là 50.00.000 đông.
Chị L và vơ chông ông T, bà H1 đã thống nhất giải quyết xong phần nghĩa vụ phải trả của chị L nên ông T và bà H1 rút yêu cầu.
Do anh H không trả nên vơ chông ông T, bà H1 đề nghị Hội đông xét xử buộc anh H phải trả cho vơ chông ông bà số tiền là 50.000.000 đông và ông bà không yêu cầu trả lãi. Anh H nhất trí đề nghị của ông T, bà H1 nhưng anh trình bày do kinh tế khó khăn chưa có để trả nên xin trả nơ dần.
Xét việc ông T bà H1 rút yêu cầu buộc chị L phải trả cho ông bà số tiền 50.000.000 đông mà chị L nhận nơ của ông bà thấy là hoàn toàn tự nguyện, không trái đạo đức xã hội không vi phạm điều cấm của pháp luật nên chấp nhận là phù hơp.
Xét yêu cầu của ông T bà H1 buộc anh H trả lại cho ông bà số tiền gốc là: 50.000.000 đông mà anh H đang nơ. Anh H xác nhận có nơ ông bà số tiền trên, thấy yêu cầu khởi kiện của ông T, bà H1 là có căn cứ nên đươc chấp nhận.
Đối với lãi suất của khoản vay: Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay ông T, bà H1 không yêu cầu trả lãi, anh H cũng nhất trí. Xét việc không yêu cầu trả lãi của ông T bà H1 thấy là hoàn toàn tự nguyện nên không xem xét giải quyết.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đươc chấp nhận nên nguyên đơn không phải chịu án phí. Đối với khoản nơ 50.000.000 của chị Trần Thị L do ông T bà H1 rút trước khi mở phiên tòa nên ông T bà H1 không phải nộp án phí.
Bị đơn anh Trần Văn H phải nộp toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm. Anh H có đề nghị Tòa án xem xét giảm cho anh một phần án phí vì điều kiện kinh tế khó khăn nhưng anh H không nộp đươc tài liệu chứng cứ nào vì vậy không có căn cứ để giảm án phí cho anh H.
Xét quan điểm đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 11 - Ninh Bình là phù hơp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 357, Điều 463, Điều 466, Điều 468 và Điều 469 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ các Điều 147, Điều 271và Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự;
Căn cứ Điều 6 và Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Q;
1. Xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Huy T, bà Vũ Thị H1: Buộc anh Trần Văn H phải trả cho vơ chông ông bà số tiền nơ gốc là 50.000.000 đông (Năm mươi triệu đông).
- Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của ông Trần Huy T, bà Vũ Thị H1: Buộc anh Trần Văn H phải trả cho vơ chông ông bà số tiền nơ gốc là 50.000.000 đông (Năm mươi triệu đông).
Sau khi án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày ông Trần Huy T, bà Vũ Thị H1 có đơn yêu cầu thi hành án mà anh Trần Văn H chưa thi hành thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian và số tiền chưa thi hành.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Buộc anh Trần Văn H phải nộp 2.500.000 đông (Hai triệu năm trăm nghìn đồng) đông án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.
3. Quyền kháng cáo: Báo cho người có mặt đươc quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Người vắng mặt vắng mặt đươc quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận đươc bản án hoặc đươc tống đạt hơp lệ.
Trường hơp bản án đươc thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lơi liên quan có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án đươc thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Toà án nhân dân tỉnh; - VKSND Khu vực 11; - Phòng THADS Khu vực 11; - Các đương sự; - UBND xã Rạng Đông; - Lưu văn phòng; HSVA. | THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Trần Trọng Ích |