- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trang Tấn T - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLH…"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trang Tấn T; Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số: 35/2025/HS-ST ngày 24 tháng 6 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện U Minh, tỉnh Cà Mau nay là Tòa án nhân dân khu vực 2 – Cà Mau.
- Căn cứ chính? Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 105/2025/HS-PT Ngày: 29 - 8 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Trọng Nhân
Các Thẩm phán: Ông Trịnh Xuân Miễn
Ông Bùi Anh Tuấn
- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Kim Yến – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa:
Ông Quách Lý Hoàng Minh – Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau, xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 88/2025/TLPT-HS ngày 28 tháng 7 năm 2025 đối với bị cáo Trang Tấn T; do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 35/2025/HS-ST ngày 24 tháng 6 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện U Minh, tỉnh Cà Mau (nay là Tòa án nhân dân khu vực 2- Cà Mau).
- Bị cáo có kháng cáo:
Họ và tên: Trang Tấn T, sinh năm: 1983, tại tỉnh Cà Mau; nơi cư trú: Khóm C, phường B, thành phố C, tỉnh Cà Mau (nay là phường A, tỉnh Cà Mau); nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trang Kim L và bà: Vương Kim N; vợ: Quách Yến P (đã ly hôn năm 2005); tiền án: Ngày 14/3/2014 bị Toà án tỉnh Cà Mau xử phạt 10 năm tù về tội “Cướp tài sản” và “Chống người thi hành công vụ”; chấp hành xong hình phạt tù ngày 26/4/2023. tiền sự: Đang chấp hành biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; nhân thân: Ngày 29/7/2003, bị Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau xử phạt 02 năm 04 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số 77/2003/HS-ST ngày 29/7/2003); Ngày 25/7/2006, bị Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xử phúc thẩm, phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số 116/2006/HS-PT ngày 25/7/2006), ngày 16/12/2007 chấp hành xong hình phạt tù; Ngày 17/9/2009, bị Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau xử phạt 02 năm 02 tháng tù về tội “Chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” (Bản án số 161/2009/HS-ST); bị bắt, tạm giam ngày 24/01/2025; bị cáo bị tạm giam có mặt.
Bị hại: Quách Vũ T1, sinh năm: 1996 (đã chết);
Đại diện gia đình bị hại: Chị Quách Huệ K, sinh năm: 1994; nơi cư trú: Số A đường V, khóm E, phường B, thành phố C (nay là phường A, tỉnh Cà Mau); vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trang Tấn T với Quách Vũ T1 là người đang chấp hành Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở Cai nghiện ma tuý tỉnh Cà Mau. Khoảng 08 giờ 12 phút ngày 19/01/2025, tại phòng số 06 khu học viên của cơ sở cai nghiện có Tòng, Đ, Minh E. Tòng kêu Đệ qua phòng số 03 cõng T về để T1 nói chuyện. Đệ qua phòng số 03 gặp T nói T1 kêu T về phòng có việc. T lên lưng cho Đ cõng về phòng số 06. Đệ thả T1 ngồi xuống bệ bê tông chỗ ngủ của T1. Trong phòng có Minh E đang ngồi xem ti vi quay lưng về phía T1 và T. Tòng ngồi sát vách tường, gần cửa sổ. T hỏi T1 “Em kêu anh cái gì?” T1 nói: “Anh rán giúp em một cái, cở nào em củng về, anh đâm dùm em một cái đi”. T nói với T1: “Khùng hả gì, làm vậy làm gì?”. T1 nói: “Anh rán giúp dùm em, em nghỉ anh là anh của em nên mới nhờ anh, anh không giúp em, em nhờ người khác cũng vậy”. Lúc này T hiểu T1 nhờ T gây thương tích để T1 được đưa đi bệnh viện điều trị nhằm tìm cách trốn về nhà. Thấy T1 năn nỉ và quyết tâm trốn trại về nhà nên T đồng ý. T1 lấy trong hộp đồ cá nhân ra một thanh kim loại (dạng dao tự chế), dài 20cm, một đầu mài nhọn có đường cong như dao, một đầu quấn vải đưa cho T cầm. T hỏi T1: “Đâm chỗ nào?”. T1 chỉ tay vào phần bụng rồi lấy gối nằm ôm trước ngực, vén áo lên để lộ phần da bụng, ngồi dựa vào sát góc tường. T cầm thanh sắt bấm vào đầu nhọn cho T1 coi và nói đâm sâu khoảng 01 lóng tay (khoảng 2,5cm). T1 không đồng ý kêu T nới tay ra khoảng hơn 01 lóng tay (khoảng 04cm) và hỏi: “Được chưa?”. Tòng nói “Anh làm đi”. Lúc này T ngồi chổm hổm, ngang cạnh T1, tay phải cầm phần vải quấn thanh sắt, tay trái chụp lên tay phải 03 ngón, còn ngón cái, ngón trỏ giữ đầu nhọn canh độ dài đâm theo ý của T1.
T dùng thanh sắt đâm vào bụng bên phải rốn của T1 được khoảng 01 lóng tay, T1 dùng tay chụp và kéo tay T về phía Tòng. Do chân yếu, T mất thăng bằng, người chúi về phía trước làm thanh sắt đâm sâu hơn vào bụng. T1 bỏ tay ra. Trần Văn Đ đứng ở cửa thấy T cầm vật gì đâm vào bụng T1, thấy bụng T1 dính 01 thanh sắt. Tòng kêu T đi ra ngoài, khỏi báo cán bộ. T bò ra mép bệ bê tông kêu Đệ cõng đi qua phòng số 03. Khi Đ cõng T rời đi, Minh E nghe tiếng Tòng rên la quay lại thấy T1 bị thương, có vật đâm vào bụng nên truy hô báo cho cán bộ trực cùng các học viên đưa T1 đi cấp cứu tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh C. T1 tử vong lúc 09 giờ 30 phút cùng ngày 19/01/2025.
Tại biên bản khám nghiệm tử thi ngày 19/01/2025 và Kết luận giám định pháp y về tử thi số: 07/KLGĐTT-TTPY ngày 11/3/2025 của Trung tâm Pháp y - Sở Y tế tỉnh C, đối với Quách Vũ T1, ghi nhận: 01 vết thương vùng bụng ngang rốn, lệch phải, kích thước 1,7cm x 0,3cm. Còn dụng cụ bằng kim loại màu trắng tại vết thương, phần kim loại nằm ngoài cơ thể dài 12cm, ngang 1,6cm, đầu kim loại quấn vải màu nâu sậm dài 08cm; Hai phổi nhạt màu không dập, vỡ; Tim không dập, vỡ, buồng tim ít máu loãng; Bầm cơ vùng ngang rốn phải; Một phần thanh kim loại thấu vào trong ổ bụng dài 08cm, có mũi nhọn và bầu, hướng xuống dưới, phần bầu từ mũi nhọn vào kích thước 3,5cm. Phần thanh kim loại hướng từ phải sang trái, từ ngoài vào trong và chếch lên trên. Thám sát rách mạch nối lớn, mạc treo tràng trên, thấu ra phía sau đứt một phần động mạch chủ bụng; Tụ máu sau phúc mạc bên phải. Ổ bụng chứa khoảng 2000ml máu.
Kết quả giám định độc chất: Theo kết luận số: 337/457/25/KLGĐGC-PVPYQG ngày 26/02/2025 của P1 tại TP ., kết luận: “Mẫu phủ tạng và máu không tìm thấy các chất độc trong danh mục tầm soát”.
Kết quả giám định mô bệnh học: Theo kết luận số: 91/KLMBH-PVPYQG ngày 28/02/2025 của P1 tại TP ., kết luận: “Động mạch chủ bụng: sung huyết, xuất huyết, tụ máu trong mô liên kết mỡ sợi quanh động mạch. Đứt một phần động mạch chủ bụng; Tim: Thiểu dưỡng cơ tim cấp; Gan: sung huyết”.
Kết luận nguyên nhân chết do: Sốc mất máu cấp/Đứt động mạch chủ bụng.
Vật chứng thu giữ gồm: 01 thanh kim loại dài 20cm, có mũi nhọn và bầu, phần đầu được quấn vãi màu nâu sậm dài 08cm; 01 khay nhựa màu đỏ, đã qua sử dụng; 01 cái gối, có áo gối vải bông màu đỏ, ruột gối màu xanh, đã qua sử dụng; 01 cái hộp được dán băng keo màu vàng bên ngoài.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 35/2025/HS-ST ngày 24 tháng 6 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện U Minh, tỉnh Cà Mau (nay là Tòa án nhân dân khu vực 2 – Cà Mau) quyết định: Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự; các điều 584, 585, 591 Bộ luật Dân sự; Xử phạt Trang Tấn T 08 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”.
Buộc Trang Tấn T bồi thường cho đại diện gia đình của bị hại Quách Vũ T1 là bà Quách Huệ K với số tiền 76.000.000 đồng.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên xử lý vật chứng, án phí, quyền, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo.
Ngày 30 tháng 6 năm 2025, bị cáo Trang Tấn T có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, sớm trở về gia đình, làm công dân có ích cho xã hội, bị cáo đã nhận rõ tội lỗi và hành vi của mình.
Tại phiên tòa bị cáo Trang Tấn T giữ nguyên kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau phát biểu quan điểm đề nghị: Căn cứ điểm a khoản 1 điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự; không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trang Tấn T; giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 35/2025/HS-ST ngày 24/6/2025 của Tòa án nhân dân huyện U Minh (nay là Tòa án nhân dân khu vực 3 – Cà Mau).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Trang Tấn T thừa nhận hành vi phạm tội phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ thể hiện: Ngày 19/01/2025, Quách Vũ T1 muốn trốn khỏi Cơ sở cai nghiện ma túy về nhà nên đã chuẩn bị sẵn hung khí là thanh kim loại (dạng dao tự chế) dài 20cm, một đầu mài nhọn có đường cong như dao, một đầu quấn vải, nhờ Trang Tấn T đâm vào bụng gây thương tích để được đưa vào bệnh viện điều trị để tìm cách bỏ trốn. Thấy T1 năn nỉ, T đã nhận lời và dùng thanh kim loại này đâm vào vùng bụng của T1 gây thương tích. Sau khi được đưa đi cấp cứu, T1 tử vong do sốc mất máu cấp/đứt động mạch chủ. Hành vi của bị cáo T dùng thanh kim loại sắt nhọn là hung khí nguy hiểm đâm vào bụng của Quách Vũ T1 là xâm hại đến sức khỏe, tính mạng của người khác trái pháp luật. Bị cáo nhận thức rõ được hành vi trái pháp luật của mình nhưng vẫn cố ý thực hiện với mục đích gây thương tích tạo điều kiện giúp T1 tìm cách trốn ra khỏi cơ sở cai nghiện. Hậu quả vết thương T đâm đã gây ra cái chết cho T1 do sốc mất máu cấp/Đứt động mạch chủ bụng. Với hành vi và hậu quả thực tế xảy ra, Bản án hình sự sơ thẩm số: 35/2025/HS-ST ngày 24 tháng 6 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện U Minh, tỉnh Cà Mau tuyên xử bị cáo Trang Tấn T phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 4 Điều 134 Bộ luật Hình sự là có căn cứ pháp luật, đúng với hành vi phạm tội của bị cáo.
Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo T thấy rằng: Hành vi của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến sức khỏe, tính mạng của người khác trái pháp luật, gây ra hậu quả làm T1 tử vong. Xét về ý thức chủ quan bị cáo T không mong muốn đâm chết T1. Song bị cáo có đủ nhận thức biết rõ hành vi dùng vật sắt nhọn đâm vào bụng T1 sẽ gây thiệt hại về sức khỏe, nghiêm trọng hơn là có thể gây chết người. Thế nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi và thực tế hậu quả chết người đã xảy ra nên bị cáo phải chịu trách nhiệm do hành vi, hậu quả của mình gây ra. Án sơ thẩm đã xem xét đầy đủ tính chất vụ án, mức độ nghiêm trọng của hành vi và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng của bị cáo như: Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo là người có nhân thân không tốt, năm 2003 và 2006 bị xử phạt về tội “Trộm cắp tài sản”; năm 2009 bị xử phạt về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”; năm 2011 bị đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc; có 01 tiền án, 01 tiền sự, thời điểm phạm tội, bị cáo đang chấp hành biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc lần thứ 02. Vì vậy, lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Do đó, án sơ thẩm áp dụng hình phạt nghiêm khắc với mức án 08 năm tù đối với bị cáo là tương xứng. Tại giai đoạn phúc thẩm, bị cáo không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ nào mới nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo. Cần giữ nguyên bản án sơ thẩm đối với bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhằm đảm bảo tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Do kháng cáo không được chấp nhận, bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.
Các Quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trang Tấn T; Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số: 35/2025/HS-ST ngày 24 tháng 6 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện U Minh, tỉnh Cà Mau nay là Tòa án nhân dân khu vực 2 – Cà Mau.
2. Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Trang Tấn T 08 (tám) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”; thời hạn tù tính từ ngày 24/01/2025.
3. Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Trang Tấn T phải chịu 200.000 đồng.
4. Các Quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau; - Công an tỉnh Cà Mau; - Công an phường An Xuyên; - VKSND khu vực 1 – Cà Mau; - Tòa án nhân dân khu vực 1 – Cà Mau; - Phòng THADS khu vực 1 – Cà Mau; - Bị cáo, người tham gia tố tụng khác; - Lưu: Hồ sơ vụ án; án văn; - Lưu VT (TM: TANDTCM). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Trần Trọng Nhân |