vanban.org

Bản án 105/2024/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương Tuyên án 10/06/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Ngh quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường v Quốc Hội quy đ nh về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử d ng án phí, lệ phí T a án.

Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố b cáo Lê Quốc Đ ph m tội “Lừa đảo chiếm đo t tài sản”. Về hình ph t: Xử ph t b cáo Lê Quốc Đ 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù, thời h n chấp hành hình ph t tù tính từ ngày 10/8/2023. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Quốc Đ phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
  • Tòa quyết gì? Ngh quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường v Quốc Hội quy đ nh về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử d ng án phí, lệ phí T a án.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố t ng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 105/2024/HS-ST
Ngày: 10-6-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Vọng.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trương Ngọc Điệp;

Ông Nguyễn Minh Trí.

- Thư ký phiên tòa: Bà Tr n Th C m Thơ - Thư ký T a án nhân dân thành phố Thủ D u Một.

- Đ i di n Vi n ki m sát nh n d n thành ph Th Dầu Một tham gia phiên tòa: Ông Lê Minh Điền - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 6 năm 2024, t i tr s T a án nhân dân thành phố Thủ D u Một, tỉnh Bình Dương, T a án nhân dân thành phố Thủ D u Một xét xử sơ th m công khai v án hình sự sơ th m th lý số 59/2024/TLST-HS ngày 15 tháng 3 năm 2024, theo Quyết đ nh đưa v án ra xét xử số 112/2024/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 5 năm 2024, đối với b cáo:

Họ và tên: Lê Quốc Đ, sinh năm 1988, t i tỉnh Bình Dương; nơi đăng ký thường trú và chỗ : Số G, đường Đ, Tổ B, Khu phố E, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc t ch: Việt Nam; con ông Lê Minh H và bà Nguyễn Bích M; b cáo có vợ là Đoàn Th Thu T và có 01 người con, sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: Không. B cáo b bắt t m giam ngày 10/8/2023 cho đến nay, có mặt.

- Bị hại:

+ Ông Nguyễn An T1, sinh năm 1974; cư trú t i: Số H, Đường Đ, Khu phố E, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương, có mặt.

+ Ông Nguyễn Văn M1, sinh năm 1971; cư trú t i: Số A, Đường Đ, Khu phố E, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương, có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

+ Anh Nguyễn Thanh T2, sinh năm 1991; cư trú t i: Thôn L, xã Đ, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi, vắng mặt.

+ Ông Lê Văn H1, sinh năm 1977 và bà Nguyễn Th T3, sinh năm 1985; cùng cư trú t i: Ấp B, xã L, huyện B, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.

+ Ch Nguyễn Th H2, sinh năm 1994; cư trú t i: Ấp E, xã Đ, huyện H, tỉnh Bình Phước, vắng mặt.

- Người làm chứng:

+ Bà Nguyễn Bích M, sinh năm 1963, có mặt.

+ Anh Hà Văn P, sinh năm 1994, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ v án và quá trình xét hỏi t i phiên t a, nội dung v án được tóm tắt như sau:

Lê Quốc Đ là đối tượng không có việc làm ổn đ nh. Trong khoảng thời gian từ ngày 26/4/2022 đến ngày 09/5/2022, Đ đã 02 (hai) l n thực hiện hành vi Lừa đảo chiếm đo t tài sản trên đ a bàn thành phố T, tỉnh Bình Dương, c thể như sau:

1. Vụ thứ 1: Lê Quốc Đ và ông Nguyễn An T1, sinh năm 1974, đăng ký thường trú t i Số H, Đường Đ, Khu phố E, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương có mối quan hệ quen biết nhau và Đ đã nhiều l n vay tiền và nợ tiền của ông T1. Do c n tiền để tiêu xài nên Đ nảy sinh ý đ nh lừa đảo chiếm đo t tiền của ông T1 và qua tìm hiểu thì Đ biết được trên đ a bàn huyện H, tỉnh Bình Phước có bán nhiều thửa đất và Đ lấy thông tin về thửa đất số 1631, tờ bản đồ số 61, diện tích 318,5m2 (100m2 đất ODT và 218,5m2 đất trồng cây lâu năm) tọa l c t i khu phố T, th trấn T, huyện H, tỉnh Bình Phước để nói dối với ông T1 là Đ đã mua được thửa đất trên nhưng chưa làm thủ t c sang tên và bán cho ông T1 với giá tiền là 500.000.000 (năm trăm triệu) đồng thì ông T1 đồng ý mua thửa đất trên của Đ. Ngày 26/4/2022, Đ hẹn ông T1 đến quán C, đ a chỉ t i phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương để tiến hành đặt cọc đất. T i đây, anh Hà Văn P, sinh năm 1991, đăng ký thường trú t i Số D, Đường số B, Tổ A, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương là b n của ông T1 đi cùng với ông T1 nên ông T1 nhờ anh P viết hợp đồng đặt cọc mua thửa đất số 1631, tờ bản đồ số 61, diện tích 318,5m2 (100m2 đất ODT và 218,5m2 đất trồng cây lâu năm) tọa l c t i khu phố T, th trấn T, huyện H, tỉnh Bình Phước với giá tiền chuyển nhượng là 500.000.000 (năm trăm triệu) đồng và hai bên thỏa thuận đặt cọc trước số tiền là 475.000.000 (bốn trăm, bảy mươi lăm triệu) đồng, số tiền c n l i là 25.000.000 (hai mươi lăm triệu) đồng thì đến khi làm xong Giấy chứng nhận quyền sử d ng đất ông T1 sẽ thanh toán. Do trước đó Đ nợ ông T1 số tiền là 375.000.000 (ba trăm, bảy mươi lăm triệu) đồng nên ông T1 thỏa thuận chỉ đưa cho Đ số tiền 100.000.000 (một trăm triệu) đồng c n số tiền 375.000.000 (ba trăm, bảy mươi lăm triệu) đồng thì ông T1 không đưa cho Đ nhưng sẽ ghi vào Hợp đồng đặt cọc và theo Hợp đồng đặt cọc thì sau 30 ngày sẽ hoàn tất việc chuyển nhượng đất cho ông T1. Sau đó, ông Thuyên c số tiền 100.000.000 (một trăm triệu) đồng vào tài khoản số 8008800888888 của Đ t i Ngân hàng Q. Tuy nhiên, đến ngày hẹn với ông T1 thì Đ không đến Văn ph ng công chứng ký hợp đồng chuyển nhượng theo thỏa thuận mà bỏ trốn. Ngày 29/8/2022, ông Nguyễn An T1 đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T làm đơn tố giác hành vi chiếm đo t tiền của ông T1 đối với Lê Quốc Đ.

Quá trình xác minh và điều tra, Chi nhánh Văn ph ng đăng kí đất đai huyện H, tỉnh Bình Phước cho biết thửa đất số 1631, tờ bản đồ số 61, diện tích 318,5m2 (100m2 đất ODT và 218,5m2 đất trồng cây lâu năm) tọa l c t i khu phố T, th trấn T, huyện H, tỉnh Bình Phước là do anh Nguyễn Thanh T2, sinh năm 1991, đăng ký hộ kh u thường trú t i thôn L, xã Đ, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử d ng đất.

Căn cứ Kết luận giám đ nh số 265/KL-KTHS(TL-ĐV) ngày 30/6/2023, Ph ng K Công an tỉnh B kết luận như sau: Chữ ký, chữ viết họ tên và 02 (hai) dấu vân tay mang tên “Lê Quốc Đ” trên “Hợp đồng đặt cọc tiền chuyển nhượng quyền sử d ng đất và tài sản gắn liền với đất” đề ngày 26/4/2022 (kí hiệu là A) so với chữ ký, chữ viết họ tên và dấu vân tay ngón trỏ trái, trỏ phải của Lê Quốc Đ trên các tài liệu mẫu (ký hiệu từ M1 đến M7) do cùng một người kí, viết và in ra.

Quá trình điều tra, Lê Quốc Đ thừa nhận hành vi đưa ra thông tin gian dối là thửa đất số 1631, tờ bản đồ số 61, diện tích 318,5m2 (100m2 đất ODT và 218,5m2 đất trồng cây lâu năm) tọa l c t i khu phố T, th trấn T, huyện H, tỉnh Bình Phước do Đ là chủ sử d ng để chuyển nhượng quyền sử d ng đất và chiếm đo t số tiền 100.000.000 (một trăm triệu) đồng của ông Nguyễn An T1. Hiện t i, ông T1 yêu c u Đ bồi thường số tiền 100.000.000 (một trăm triệu) đồng nhưng Đ chưa bồi thường số tiền trên cho ông T1.

2. Vụ thứ 2: Sau khi nhận tiền đặt cọc mua đất của ông T1 thì Đ tiếp t c nói với ông T1 là Đ c n một thửa đất số 1319, tờ bản đồ số 44, diện tích 568,8m2 (đất trồng cây lâu năm) tọa l c t i Khu phố B, th trấn T, huyện H, tỉnh Bình Phước và nói ông T1 nếu có ai mua thì giới thiệu cho Đ để Đ bán. Lúc này, ông T1 giới thiệu cho ông Nguyễn Văn M1, sinh năm 1971, đăng ký hộ kh u thường trú t i Số A, Đường Đ, Khu phố E, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương về thửa đất mà Đ muốn bán thì ông M1 đồng ý mua. Ngày 09/5/2022, ông T1 đi cùng ông M1 đến nhà Đ, đ a chỉ t i Số G, Đường Đ, Tổ B, Khu phố E, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương để thương lượng giá tiền và đặt cọc mua thửa đất trên. T i đây, Đ nói với ông M1 là thửa đất số 1319, tờ bản đồ số 44, diện tích 568,8m2 (đất trồng cây lâu năm) tọa l c t i Khu phố B, th trấn T, huyện H, tỉnh Bình Phước là do Đ mới mua với giá tiền là 650.000.000 (sáu trăm năm mươi triệu) đồng nhưng Đ chưa làm thủ t c sang tên và Đ sẽ bán l i giá gốc cho ông M1 thì ông M1 đồng ý. Lúc này, ông T1 viết giấy đặt cọc thửa đất số 1319, tờ bản đồ số 44, diện tích 568,8m2 (đất trồng cây lâu năm) tọa l c t i Khu phố B, th trấn T, huyện H, tỉnh Bình Phước với số tiền chuyển nhượng là 650.000.000 (sáu trăm năm mươi triệu) đồng và ông M1 đặt cọc số tiền là 200.000.000 (hai trăm triệu) đồng. Sau đó, ông M1 đưa cho Đ trước số tiền 100.000.000 (một trăm triệu) đồng rồi hẹn ngày 10/5/2022 sẽ giao đủ số tiền c n l i là 100.000.000 (một trăm triệu) đồng và thỏa thuận 40 ngày sau sẽ kí hợp đồng chuyển nhượng và giao số tiền 450.000.000 (bốn trăm năm mươi triệu) đồng c n l i. Tuy nhiên, sau khi đã nhận đủ số tiền là 200.000.000 (hai trăm triệu) đồng và đến ngày hẹn với ông M1 thì Đ không đến Văn ph ng công chứng ký hợp đồng chuyển nhượng theo thỏa thuận mà bỏ trốn. Ngày 29/8/2022, ông Nguyễn Văn M1 đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T làm đơn tố giác hành vi chiếm đo t tiền của ông M1 đối với Lê Quốc Đ.

Quá trình xác minh và điều tra, Chi nhánh Văn ph ng đăng kí đất đai huyện H, tỉnh Bình Phước cho biết thửa đất số 1319, tờ bản đồ số 44, diện tích 568,8m2 (đất trồng cây lâu năm) tọa l c t i Khu phố B, th trấn T, huyện H, tỉnh Bình Phước là do ch Nguyễn Th H2, sinh năm 1994, đăng ký thường trú t i Ấp E, xã Đ, huyện H, tỉnh Bình Phước đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử d ng đất.

* Căn cứ Kết luận giám đ nh số 266/KL-KTHS(TL-ĐV) ngày 28/6/2023, Ph ng K Công an tỉnh B kết luận như sau:

1. Chữ ký, chữ viết họ tên và dấu vân tay được Giám đ nh viên đánh số 1 mang tên “Lê Quốc Đ” trên “Hợp đồng đặt cọc tiền chuyển nhượng quyền sử d ng đất và tài sản gắn liền với đất” đề ngày 09/5/2022 (kí hiệu là A) so với chữ ký, chữ viết họ tên và dấu vân tay ngón trỏ trái của Lê Quốc Đ trên các tài liệu mẫu (ký hiệu từ M1 đến M7) do cùng một người ký, viết và in ra.

2. Dấu vân tay được Giám đ nh viên đánh số 2 mang tên “Lê Quốc Đ” trên tài liệu c n giám đ nh (kí hiệu A) mờ nh e không đủ yếu tố giám đ nh.

Quá trình điều tra, Lê Quốc Đ thừa nhận hành vi đưa ra thông tin gian dối là thửa đất số 1319, tờ bản đồ số 44, diện tích 568,8m2 (đất trồng cây lâu năm) tọa l c t i Khu phố B, th trấn T, huyện H, tỉnh Bình Phước do Đ là chủ sử d ng để chuyển nhượng quyền sử d ng đất và chiếm đo t số tiền 200.000.000 (hai trăm triệu đồng) của ông Nguyễn Văn M1. Hiện t i, ông M1 yêu c u Đ bồi thường số tiền 200.000.000 (hai trăm triệu) đồng nhưng Đ chưa bồi thường số tiền trên cho ông M1.

Cáo tr ng số 73/CT-VKSTDM ngày 13 tháng 3 năm 2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ D u Một, tỉnh Bình Dương truy tố b cáo Lê Quốc Đ về tội “Lừa đảo chiếm đo t tài sản” theo khoản a khoản 3 Điều 174 của Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung 2017).

T i phiên tòa,

- Đ i diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố T trong ph n tranh luận, giữ nguyên quyết đ nh truy tố b cáo, đồng thời đề ngh Hội đồng xét xử:

Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố b cáo Lê Quốc Đ ph m tội “Lừa đảo chiếm đo t tài sản”.

Về hình ph t: Áp d ng điểm a khoản 3 Điều 174; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017): Xử ph t b cáo Lê Quốc Đ mức hình ph t từ 08 (tám) năm đến 09 (chín) năm tù.

Về trách nhiệm dân sự và biện pháp tư pháp: Quá trình xét xử, gia đình b cáo đã bồi thường cho b h i Nguyễn An T1 10.000.000 (mười triệu) đồng và bồi thường cho b h i Nguyễn Văn M1 10.000.000 (mười triệu) đồng nên buộc b cáo Lê Quốc Đ phải trả l i cho b h i Nguyễn An T1 số tiền 90.000.000 (chín mươi triệu) đồng và trả cho b h i Nguyễn Văn M1 190.000.000 (một trăm chín mươi triệu) đồng.

- T i ph n tranh luận, b cáo không tranh luận với đ i diện Viện kiểm sát về tội danh, khung hình ph t và mức hình ph t đã đề ngh .

- B h i Nguyễn An T1 và Nguyễn Văn M1 không có ý kiến tranh luận; các b h i đề ngh Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình ph t cho b cáo.

Trong nói lời sau cùng, b cáo đã nhận thấy hành vi sai trái của mình nên xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình ph t cho b cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ s nội dung v án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh t ng t i phiên t a, Hội đồng xét xử nhận đ nh như sau:

Về hành vi, quyết đ nh tố t ng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ D u Một, Kiểm sát viên trong quá trình kh i tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về th m quyền, trình tự, thủ t c quy đ nh của Bộ luật Tố t ng hình sự. Quá trình điều tra và t i phiên t a, không ai có ý kiến hoặc khiếu n i về hành vi, quyết đ nh của Cơ quan tiến hành tố t ng, người tiến hành tố t ng. Do đó, quyết đ nh, hành vi tố t ng của Cơ quan tiến hành tố t ng, người tiến hành tố t ng đã thực hiện là phù hợp với quy đ nh của pháp luật.

T i phiên t a, b cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi ph m tội. Lời khai của b cáo t i phiên t a phù hợp với lời khai của b cáo t i cơ quan điều tra, biên bản hỏi cung b can, biên bản ghi lời khai của các b h i, Kết luận Giám đ nh, cùng những tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ v án, đủ cơ s kết luận: Trong khoảng thời gian từ ngày 26/4/2022 đến ngày 09/5/2022, b cáo Lê Quốc Đ đã 02 (hai) l n thực hiện hành vi gian dối để chiếm đo t tài sản trên đ a bàn phường H và phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương, c thể: Ngày 26/4/2022, t i quán C, đ a chỉ t i phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương, Lê Quốc Đ đưa ra thông tin gian dối thửa đất số 1631, tờ bản đồ số 61, diện tích 318,5m2 (trong đó có 100m2 đất ODT và 218,5m2 đất trồng cây lâu năm) t i khu phố T, th trấn T, huyện H, tỉnh Bình Phước là do Đ là chủ sử d ng để chuyển nhượng quyền sử d ng đất và chiếm đo t số tiền 100.000.000 (một trăm triệu) đồng của b h i Nguyễn An T1. Tiếp đến ngày 09/5/2022, t i nhà Số G, Đường Đ, Tổ B, Khu phố E, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương, Lê Quốc Đ đưa ra thông tin gian dối thửa đất số 1319, tờ bản đồ số 44, diện tích 568,8m2 (đất trồng cây lâu năm) t i Khu phố B, th trấn T, huyện H, tỉnh Bình Phước là do Đ là chủ sử d ng để chuyển nhượng quyền sử d ng đất và chiếm đo t số tiền 200.000.000 (hai trăm triệu) đồng của b h i Nguyễn Văn M1. Như vậy, tổng số tiền mà b cáo đã chiếm đo t của các b h i Nguyễn An T1 và Nguyễn Văn M1 là 300.000.000 (ba trăm triệu) đồng. Do đó, hành vi mà b cáo đã thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đo t tài sản”, số tiền mà b cáo đã chiếm đo t của các b h i được quy đ nh t i điểm a khoản 3 Điều 174 của Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung 2017). B cáo đủ năng lực ch u trách nhiệm hình sự. Do vậy, Cáo tr ng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ D u Một truy tố đối với b cáo theo tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Hành vi mà b cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm ph m đến quyền s hữu hợp pháp về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ; gây mất trật tự, tr an t i đ a phương nơi xảy ra v án. Về nhận thức, b cáo biết hành vi của mình là vi ph m pháp luật nhưng vì tham lam, lười lao động nhưng l i muốn có tiền để tiêu xài và trả nợ mà b cáo đã bất chấp sự trừng ph t của pháp luật, thực hiện hành vi ph m tội với lỗi cố ý trực tiếp. Do đó, c n có mức hình ph t nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi mà b cáo đã thực hiện; c n cách ly b cáo ra khỏi xã hội một thời gian để có tác d ng răn đe, giáo d c b cáo tr thành công dân có ích cho xã hội.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Vào ngày 26/4 và ngày 09/5/2022, b cáo đã 02 l n thực hiện hành vi ph m tội và cả 02 l n đều đủ yếu tố cấu thành tội lừa đảo chiếm đo t tài sản nên b cáo thuộc trường hợp “Ph m tội 02 l n tr lên” và đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy đ nh t i điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và t i phiên t a, b cáo có thái độ thành kh n khai báo, ăn năn hối cải về hành vi ph m tội của mình; đã tác động gia đình hoàn trả cho mỗi b h i 10.000.000 (mười triệu) đồng và được các b h i đề ngh giảm nhẹ một ph n hình ph t cho b cáo nên đây là những tình tiết giảm nhẹ quy đ nh t i điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Căn cứ vào những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; căn cứ vào nhân thân của b cáo, xét mức hình ph t mà Đ i diện Viện kiểm sát đề ngh là phù hợp nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về trách nhiệm dân sự: Đối với số tiền 100.000.000 (một trăm triệu) đồng mà b cáo chiếm đo t của b h i Nguyễn An T1 và số tiền 200.000.000 (hai trăm triệu) đồng mà b cáo chiếm đo t của b h i Nguyễn Văn M1; trong quá trình xét xử, gia đình b cáo đã trả cho b h i Nguyễn An T1 số tiền 10.000.000 (mười triệu) đồng, trả cho b h i Nguyễn Văn M1 số tiền 10.000.000 (mười triệu) đồng; t i phiên toà b h i Nguyễn An T1 yêu c u b cáo tiếp t c trả số tiền 90.000.000 (chín mươi triệu) đồng và b h i Nguyễn Văn M1 yêu c u b cáo tiếp t c trả số tiền 190.000.000 (một trăm chín mươi triệu) đồng và được b cáo đồng ý nên c n ghi nhận.

Về biện pháp tư pháp: Không.

Án phí sơ th m: B cáo phải nộp 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ th m và 280.000.000 đồng x 5% = 14.000.000 (mười bốn triệu) đồng án phí dân sự sơ th m theo quy đ nh pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ các Điều 48, 136, 260, 331, 333 của Bộ luật Tố t ng hình sự;

- Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 174; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017);

- Ngh quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường v Quốc Hội quy đ nh về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử d ng án phí, lệ phí T a án.

1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố b cáo Lê Quốc Đ ph m tội “Lừa đảo chiếm đo t tài sản”.

2. Về hình ph t: Xử ph t b cáo Lê Quốc Đ 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù, thời h n chấp hành hình ph t tù tính từ ngày 10/8/2023.

3. Về trách nhiệm dân sự: Buộc b cáo Lê Quốc Đ phải trả cho b h i Nguyễn An T1 số tiền 90.000.000 (chín mươi triệu) đồng và trả cho b h i Nguyễn Văn M1 số tiền 190.000.000 (một trăm chín mươi triệu) đồng.

4. Về biện pháp tư pháp: Không.

5. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết đ nh thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu c u thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án c n phải ch u khoản tiền lãi của số tiền c n phải thi hành án theo mức lãi suất quy đ nh t i Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

6. Trường hợp bản án, quyết đ nh được thi hành theo quy đ nh t i Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu c u thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc b cưỡng chế thi hành án theo quy đ nh t i các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy đ nh t i Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

7. Về án phí: Buộc b cáo phải ch u 200.000 (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ th m và 14.000.000 (mười bốn triệu) đồng án phí dân sự sơ th m.

8. B cáo, b h i được quyền kháng cáo Bản án trong thời h n 15 ngày kể từ ngày tuyên án; những người có quyền lợi, nghĩa v liên quan đến v án được quyền kháng cáo bản án trong thời h n 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc ngày Bản án được niêm yết công khai theo quy đ nh của pháp luật./.

Cỡ chữ