vanban.org

Bản án 105/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 30/12/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Căn cứ vào Điểm đ Khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Các bị cáo Vũ Mạnh C và Lê Văn H phạm tội “Cố ý gây thương tích” Về hình phạt: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ cố ý gây thương tích Trại 5 - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Căn cứ vào Điểm đ Khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN YÊN ĐỊNH
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 105/2024/HS-ST
Ngày 30 - 12 – 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN ĐỊNH, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoa.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Trần Thị Hiền.

2. Ông Lê Minh Chiểu.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nương - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định, Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thị Phượng - Kiểm sát viên.

Trong ngày 30 tháng 12 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 98/2024/TLST - HS ngày 08 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 103/2024/QĐXXST - HS ngày 16 tháng 12 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Vũ Mạnh C, sinh ngày 13 tháng 8 năm 1999 tại huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Nơi ĐKHKTT: Thôn N, xã B, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Hiện đang chấp hành án tại Trại giam số 5, Cục C10, Bộ công an, đóng tại Thị trấn B, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 12/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Số CCCD: 03809901….; Con ông: Vũ Trọng T, sinh năm 1970 và bà: Lê Thị H, sinh năm 1974; Gia đình bị cáo có 02 chị em, bị cáo là con thứ hai, chưa có vợ con.

Tiền sự: Không.

Tiền án: Có 02 tiền án

- Ngày 10/7/2020, bị Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 24 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo bản án hình sự sơ thẩm số 32/2020/HS-ST.

- Ngày 31/12/2020, bị Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 30 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” và 07 năm 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Tổng hợp hình phạt chung cho cả hai tội là 10 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 10/7/2020 theo bản án hình sự sơ thẩm số 84/2020/HS-ST.

Bị cáo đang chấp hành án tại Trại giam số 5, Cục C10, Bộ Công an, đóng tại Thị trấn B, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa, có mặt tại phiên tòa.

2. Họ và tên: Lê Văn H, sinh ngày 04 tháng 6 năm 2000 tại xã Y, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa. Nơi ĐKHKTT: Thôn T, xã Y, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa. Hiện đang chấp hành án tại Trại giam số 5, Cục C10, Bộ công an, đóng tại Thị trấn B, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 12/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Số CCCD: 03820001…..; Con ông: Lê Văn S, sinh năm 1974 và bà: Nguyễn Thị C, sinh năm 1976; Gia đình bị cáo có 02 chị em, bị cáo là con thứ hai, chưa có vợ con.

Tiền sự: Không.

Tiền án: Có 01 tiền án.

Ngày 30/6/20...., bị Tòa án nhân dân huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 07 năm 03 tháng tù về tội “TC”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 13/01/20.... theo bản án hình sự sơ thẩm số 37/20..../HS-ST.

Bị cáo đang chấp hành án tại Trại giam số 5, Cục C10, Bộ Công an, đóng tại Thị trấn B, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa, có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Anh Ngô Văn C, sinh năm 1981 (Có mặt).

ĐKHKTT: Số nhà 76, Phố X, phường A, Thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh.

Hiện là phạm nhân đang chấp hành án tại Trại giam số 5, Cục C10, Bộ Công an, đóng tại Thị trấn B, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa.

- Người làm chứng:

1. Anh Đinh Quang V, sinh năm 1971 (Vắng mặt).

ĐKHKTT: Thôn P, xã X, huyện Ba Vì, Thành phố Hà Nội

2. Anh Nguyễn Văn C, sinh năm 1993 (Vắng mặt).

ĐKHKTT: Thôn C, xã H, huyện Hoằng Hóa, Thanh Hóa.

3. Anh Trần Mạnh C, sinh năm 1984 (Có mặt)

ĐHKTT: Số nhà 15, ngõ 166, phường T, Quận H, Thành phố Hà Nội.

4. Anh Đinh Công T, sinh năm 1989 (Vắng mặt).

ĐKHKTT: Thôn Đ, xã C, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình.

5. Anh Lê Đình T, sinh năm 1994 (Vắng mặt).

ĐKHKTT: Khu phố 2, Thị trấn A, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.

6. Anh Lê Đôn P, sinh năm 1997 (Vắng mặt).

ĐKHKTT: Thôn Trung Thôn, xã B, huyện T, Thanh Hóa.

Đều là phạm nhân đang chấp hành án tại Trại giam số 5, Cục C10, Bộ Công an, đóng tại Thị trấn B, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa.

7. Ông Đỗ Văn T, sinh năm 1979 (Có mặt).

Địa chỉ: Phố 3/2, Thị trấn B, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa.

8. Anh Đỗ Đức H, sinh năm 1991 (Có mặt).

Địa chỉ: Khu phố 1, Thị trấn B, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa.

9. Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1990 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Thôn H, xã H, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa.

10. Bà Lê Thị H, sinh năm 1974 (Có mặt).

Địa chỉ: Thôn N, xã B, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 7 giờ 30 phút ngày 21/12/2023, Lê Văn H và Vũ Mạnh C (là các phạm nhân đang chấp hành án tại đội 9, phân trại số 1, Trại giam số 5, Cục C10, Bộ công an) đang trong quá trình lao động thì có xin cán bộ quản giáo sang khu lao động của đội phạm nhân số 12 để mượn dụng cụ lao động. Lúc này, các phạm nhân Ngô Văn C (sinh năm 1981, ở số nhà 76, Phố X, phường A, thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh) và Trần Mạnh C (sinh năm 1984, ở tổ 35 phường Thịnh Liệt, quận H, Thành phố Hà Nội) đang hái rau tại các luống rau của đội 12. Vũ Mạnh C hỏi: “Các ông hái rau của ai?”. Ngô Văn C nói lại: “Rau bọn tao trồng, bọn tao hái”, rồi cầm rau đi ra khu vực bể nước thuộc khu vực lao động của đội phạm nhân số 12. Khi đó, Vũ Mạnh C và Huy cũng đi ra khu vực bể nước thì nghe thấy phạm nhân Ngô Văn C chửi bới nên giữa Ngô Văn C với Vũ Mạnh C, Lê Văn H có xảy ra to tiếng. Huy dùng tay đấm vào vai trái của Ngô Văn C thì Ngô Văn C bỏ chạy vòng quanh bể nước. Vũ Mạnh C cũng đuổi theo Ngô Văn C để đánh nhưng không đánh được. Khi Ngô Văn C chạy ra vị trí đống cát thì Huy túm được và tiếp tục dùng tay đấm nhiều cái vào vùng lưng của Ngô Văn C. Vũ Mạnh C xông lại dùng tay đấm vào vùng vai của Ngô Văn C một cái. Lúc này, phạm nhân Nguyễn Văn C cùng một số phạm nhân khác chạy lại can ngăn, kéo Vũ Mạnh C ra. Khi đó, Ngô Văn C bị ngã xuống đống cát thì túm được cái ghế gỗ đứng dậy khua về phía các phạm nhân đang đứng phía sau nhưng không trúng ai. Ngô Văn C tiếp tục cầm theo ghế gỗ đuổi theo Lê Văn H chạy ra vườn rau. Lúc này, Vũ Mạnh C cầm một cái thang tre ở gần khu vực vườn rau định đánh Ngô Văn C nhưng được các phạm nhân khác giật lại cất đi. Ngay sau đó, cán bộ quản giáo và cán bộ bảo vệ đến nên các phạm nhân giải tán đi về. Sau khi bị đánh, Ngô Văn C bị đau tại vùng cột sống thắt lưng và được điều trị tại Bệnh viện đa khoa khu vực Ngọc Lặc, huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa từ ngày 21/12/2023 đến ngày 02/02/2024 thì xuất viện (BL số 77-88, 193, 101-114, 115-125, 165-167, 168-173, 174-176, 179-183).

Biên bản xem xét dấu vết trên thân thể đối với phạm nhân Ngô Văn C lập hồi 15 giờ 40 ngày 21/12/2023 tại Trại giam số 5: Không ghi nhận dấu vết gì, Cường kêu đau tại vùng vai và thắt lưng.

Cơ quan điều tra đã ra Quyết định trưng cầu giám định thương tích và giám định cơ chế hình thành thương tích, vật gây thương tích đối với Ngô Văn C. Tại bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 36/KLTTCT-PYTH ngày 11/4/2024 của Trung tâm Pháp y Thanh Hóa, kết luận:

- Chấn thương vùng cột sống thắt lưng gây tổn thương lún, xẹp đốt sống lưng L1: 21% (Thông tư 22/2019/TT-BYT, Bảng 1, chương 7, mục XII, 3.1).

- Các chấn thương và tổn thương khác do chấn thương đã được điều trị. Hiện tại không để lại sẹo vết thương phần mềm, không để lại biến đổi rối loại sắc tố da, không có di chứng tổn thương cơ quan chức năng do chấn thương: 0%.

- CT-Scanner cột sống thắt lưng: Hình ảnh vỡ xẹp đang có dấu hiệu can xương thân đốt sống L1.

Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Ngô Văn C tại thời điểm giám định là 21% (BL số 141-144).

Tại bản kết luận giám định vật gây thương tích số 566/KLVGTT-PYTH ngày 17/6/2024 của Trung tâm pháp y Thanh Hóa kết luận:

- Đau vùng thắt lưng: Do chấn thương cột sống thắt lưng được tạo nên bởi ngoại lực; phù hợp với sự tác động trực tiếp của vật tày có diện tiếp xúc rộng hoặc tác động gián tiếp theo cơ chế lực xoắn vặn, lực dồn nén theo trục của cơ thể gây tổn thương lún, xẹp đốt sống lưng L1.

- Đau vùng vai: Không đủ chứng cứ khoa học và các dữ liệu khách quan để xác định chính xác đau tại vùng vai là hậu quả của chấn thương gây nên. Tuy nhiên, nếu là do chấn thương thì phù hợp với tổn thương do tác động của ngoại lực tạo nên bởi vật tày có diện tiếp xúc rộng tác động trực tiếp hoặc tác động gián tiếp qua cơ chế xoắn vặn, lực dồn nén theo trục của cơ thể.

- Nếu sử dụng ghế gỗ như mô tả trong tài liệu hồ sơ giám định cung cấp dùng làm vật gây thương tích cho Ngô Văn C thì có thể gây nên được thương tích như đã được ghi nhận trong các tài liệu hồ sơ giám định do cơ quan trưng cầu cung cấp (BL số 148-149).

Về vật chứng vụ án, thu giữ 01 cái ghế (loại ghế ngồi lao động), màu xám, mặt ghế bằng phẳng, hình chữ nhật, dài 60cm, rộng 20cm, dày 02cm; chân ghế hình chữ nhật, cao 15cm, rộng 20cm, dày 03cm, ghế đã qua sử dụng. Qúa trình điều tra, xác định là tài sản của Trại giam số 5, không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên đã trả lại cho Trại giam số 5 là phù hợp.

Về trách nhiệm dân sự: Qúa trình phạm nhân Ngô Văn C điều trị thương tích tại Bệnh viện đa khoa khu vực Ngọc Lặc, huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa, Trại giam số 5 đã chi trả tiền viện phí, phân công cán bộ trông coi, bảo vệ nhưng không yêu cầu phải bồi hoàn lại. Sau khi vụ việc xảy ra, gia đình Vũ Mạnh C và Lê Văn H đã đến thăm hỏi, bồi thường cho Ngô Văn C số tiền là 14.000.000đ.

Tại bản cáo trạng số 106/CT-VKSYĐ ngày 07/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định đã truy tố Vũ Mạnh C và Lê Văn H về tội “Cố ý gây thương tích” theo Điểm đ Khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa: Các bị cáo Vũ Mạnh C và Lê Văn H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng đã truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định luận tội giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Vũ Mạnh C và Lê Văn H phạm tội “Cố ý gây thương tích”;

Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng Điểm đ Khoản 2 Điều 134, Điểm h Khoản 1 Điều 52, Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 17, Điều 58, Khoản 2 Điều 56, Khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự;

Xử phạt: Bị cáo Vũ Mạnh C từ 30 tháng đến 33 tháng tù. Tổng hợp với hình phạt 24 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo bản án hình sự sơ thẩm số 32/2020/HS-ST ngày 10/7/2020 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Thanh Hóa nhưng được trừ đi thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/12/2019 đến ngày 15/5/2020. Và tổng hợp với hình phạt tù chưa chấp hành của bản án hình sự sơ thẩm số 84/2020/HS-ST ngày 31/12/2020 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Thanh Hóa để quyết định hình phạt chung đối với bị cáo. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tuyên án.

Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng Điểm đ Khoản 2 Điều 134, Điểm h Khoản 1 Điều 52, Điểm b, s Khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 17, Điều 58, Khoản 2 Điều 56 Bộ luật hình sự;

Xử phạt: Bị cáo Lê Văn H từ 33 tháng đến 36 tháng tù. Tổng hợp với hình phạt tù chưa chấp hành của bản án hình sự sơ thẩm số 37/20..../HS-ST ngày 30/6/20.... của Tòa án nhân dân huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa để quyết định hình phạt chung đối với bị cáo. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tuyên án.

Về trách nhiệm dân sự: Dành quyền khởi kiện bằng vụ án dân sự khác cho bị hại Ngô Văn C khi có yêu cầu bồi thường thiệt hại về sức khỏe.

Về án phí: Thực hiện theo quy định của pháp luật.

Trong phần tranh luận: Các bị cáo và bị hại thống nhất với quan điểm luận tội và không có tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát. Bị hại Ngô Văn C đề nghị Hội đồng xét xử, xử phạt các bị cáo theo quy định của pháp luật. Các bị cáo nói lời sau cùng, đều xin lỗi bị hại Ngô Văn C và mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Về tội danh:

Tại phiên tòa sơ thẩm các bị cáo Vũ Mạnh C và Lê Văn H khai nhận: Vào khoảng 7 giờ 30 phút ngày 21/12/2023, tại hiện trường lao động đội 12, phân trại số 1, Trại giam số 5, Cục C10, Bộ công an, đóng tại Thị trấn B, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa, do có mâu thuẫn, xích mích trong quá trình sinh hoạt, Vũ Mạnh C và Lê Văn H đã có hành vi dùng tay đánh vào vùng vai, lưng của phạm nhân Ngô Văn C. Hậu quả, phạm nhân Ngô Văn C bị chấn thương vùng cột sống thắt lưng, tổn thương lún, xẹp đốt sống lưng L1, với tổn thương cơ thể là 21%.

Lời khai nhận của các bị cáo Vũ Mạnh C và Lê Văn H tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với thương tích của bị hại, lời khai của người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi dùng tay đánh gây tổn hại sức khỏe cho Ngô Văn C của Vũ Mạnh C và Lê Văn H đang trong thời gian chấp hành án phạt tù đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại Điểm đ Khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự năm 2015. Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định truy tố các bị cáo Vũ Mạnh C và Lê Văn H theo tội danh trên, đề nghị HĐXX áp dụng điều luật là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Qúa trình điều tra và tại phiên tòa, nhân chứng phạm nhân Trần Mạnh C khai, ngoài các bị cáo Vũ Mạnh C và Lê Văn H đánh gây thương tích cho anh Ngô Văn C thì còn có các phạm nhân khác Lê Đôn P, Nguyễn Văn C, Lê Đình T tham gia đánh anh Ngô Văn C. Hội đồng xét xử xét thấy: Sau khi sự việc xảy ra, Trại giam số 5 đã xác minh, giải quyết nguồn tin về tội phạm thì Ngô Văn C, Trần Mạnh C và những người liên quan, chứng kiến sự việc đều xác định chỉ có Vũ Mạnh C và Lê Văn H dùng tay không đánh anh Ngô Văn C; các bị cáo Vũ Mạnh C và Lê Văn H khẳng định chỉ có Vũ Mạnh C và Huy đánh anh Cường; các phạm nhân Phúc, Cầu và Thọ đều khai không tham gia đánh Ngô Văn C, chỉ vào can ngăn. Tại phiên tòa, bị hại Ngô Văn C khai không biết, không xác định được cụ thể ai đánh mình, chỉ nghe phạm nhân Trần Mạnh C kể lại những người đánh mình. Do đó, ngoài lời khai của Trần Mạnh C thì không còn tài liệu, chứng cứ nào khác chứng minh các phạm nhân Phúc, Cầu và Thọ tham gia đánh Ngô Văn C nên không có căn cứ xử lý là phù hợp.

Đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội:

Đây là vụ án cố ý gây thương tích có tính chất nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, các bị cáo đã xâm phạm đến quyền bất khả xâm phạm về sức khỏe của con người được pháp luật bảo vệ. Các bị cáo đang trong thời gian chấp hành án phạt tù, đã được tuyên truyền, giáo dục pháp luật, học các nội quy, quy chế của trại giam nhưng không chịu tự nhận thức được lỗi lẫm của mình, xác định tư tưởng thi hành án để từ đó sớm được trở về với gia đình, hòa nhập cộng đồng. Chỉ vì mâu thuẫn nhỏ trong sinh hoạt hằng ngày mà các bị cáo không làm chủ được bản thân, dẫn đến việc tiếp tục phạm tội. Vì vậy, cần thiết phải xử lý thật nghiêm, có hình phạt nghiêm khắc đối với các bị cáo và giáo dục phòng ngừa chung.

Đánh giá vai trò đồng phạm, các bị cáo phạm tội không có sự phân công bàn bạc từ trước nên chỉ là đồng phạm giản đơn. Các bị cáo Vũ Mạnh C và Lê Văn H đều là người thực hành tích cực, nhưng bị cáo Huy có hành vi đánh bị hại nhiều hơn, nên Huy giữ vai trò cao hơn Vũ Mạnh C là phù hợp.

Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều phải chịu 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm được quy định tại Điểm h Khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đều thành khẩn khai báo; đã tác động đến gia đình bồi thường thiệt hại cho bị hại. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại Điểm s, b Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo thể hiện sự khoan hồng của pháp luật. Bị cáo Vũ Mạnh C có ông nội, ông ngoại là người có công với cách mạng nên được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Do đó, căn cứ vào tính chất của vụ án, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Các bị cáo đều đang chấp hành hình phạt tù tại trại giam, không ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình mà tiếp tục phạm tội nghiêm trọng. Vì vậy, cần phải áp dụng hình phạt tù tương xứng để cải tạo, giáo dục riêng đối với các bị cáo cũng như tăng cường phòng ngừa tội phạm chung.

Bị cáo Vũ Mạnh C đang chấp hành đồng thời hình phạt 24 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo bản án hình sự sơ thẩm số 32/2020/HS-ST ngày 10/7/2020 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Và hình phạt 30 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” và 07 năm 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Tổng hợp hình phạt chung cho cả hai tội là 10 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 10/7/2020 theo bản án hình sự sơ thẩm số 84/2020/HS-ST ngày 31/12/2020 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Thanh Hóa.

Tính đến ngày 21/12/2023, bị cáo Vũ Mạnh C thực hiện hành vi phạm tội trong thời gian thử thách của bản án hình sự sơ thẩm số 32/2020/HS-ST ngày 10/7/2020 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Do đó, theo quy định tại Khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự, buộc bị cáo Cường phải chấp hành hình phạt tù của bản án hình sự sơ thẩm số 32/2020/HS-ST ngày 10/7/2020 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 24 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội “Gây rối trật tự công cộng” và tổng hợp với hình phạt của bản án mới này.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 32/2020/HS-ST ngày 10/7/2020 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Thanh Hóa, bị cáo Cường bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/12/2019 đến ngày 15/5/2020 (là 05 tháng 09 ngày) nên được trừ vào thời gian chấp hành hình phạt tù. Vậy, bị cáo Vũ Mạnh C còn phải chấp hành hình phạt tù của bản án này là 01 năm 06 tháng 21 ngày tù.

Đối với bản án hình sự sơ thẩm số 84/2020/HS-ST ngày 31/12/2020 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Thanh Hóa, bị cáo Vũ Mạnh C phải chấp hành hình phạt là 10 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 10/7/2020. Tính đến ngày xét xử, bị cáo đã chấp hành được 04 năm 05 tháng 20 ngày tù. Bị cáo còn phải chấp hành tiếp hình phạt tù của bản án này là 05 năm 06 tháng 10 ngày. Tổng hợp với hình phạt của bản án mới buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là phù hợp với quy định tại Khoản 2 Khoản 2 Điều 56 Bộ luật hình sự.

Bị cáo Lê Văn H đang chấp hành hình phạt 07 năm 03 tháng tù về tội “TC”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 13/01/20.... theo bản án hình sự sơ thẩm số 37/20..../HS-ST của Tòa án nhân dân huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa. Tính đến ngày xét xử, bị cáo đã chấp hành được 03 năm 11 tháng 17 ngày tù. Tuy nhiên, ngày 30/8/2023, bị cáo Huy được giảm thời hạn chấp hành án phạt tù là 10 (mười) tháng theo Quyết định về việc xét giảm thời hạn chấp hành án phạt tù số 8610/2023/THAHS-QĐ của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa. Do vậy, bị cáo còn phải chấp hành tiếp hình phạt tù của bản án này là 02 năm 05 tháng 13 ngày. Tổng hợp với hình phạt của bản án mới buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án.

Về vật chứng vụ án: Cơ quan điều tra đã thu giữ 01 cái ghế (loại ghế ngồi lao động), màu xám, mặt ghế bằng phẳng, hình chữ nhật, dài 60cm, rộng 20cm, dày 02cm; chân ghế hình chữ nhật, cao 15cm, rộng 20cm, dày 03cm, ghế đã qua sử dụng. Qúa trình điều tra, xác định là tài sản của Trại giam số 5, không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên đã trả lại cho Trại giam số 5 là phù hợp.

Về trách nhiệm dân sự:

Bị hại Ngô Văn C bị Vũ Mạnh C và Lê Văn H gây thương tích, phải điều trị thương tích tại Bệnh viện đa khoa khu vực Ngọc Lặc, huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa. Qúa trình điều trị tại bệnh viện, Trại giam số 5 đã chi trả tiền viện phí, phân công cán bộ trông coi, bảo vệ nhưng không yêu cầu phải bồi hoàn lại các khoản chi phí này.

Các bị cáo Vũ Mạnh C và Lê Văn H đang chấp hành án tại Trại giam nên đã tác động gia đình đến thăm hỏi và bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho bị hại Ngô Văn C với tổng số tiền là 14.000.000đ. Ngày 06/01/2024, anh Cường viết đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo và không kiện cáo gì. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị hại xin rút lại đơn xin giảm nhẹ hình phạt, đề nghị xử các bị cáo theo quy định pháp luật; về trách nhiệm dân sự chưa có yêu cầu đề nghị cụ thể, khi nào có yêu cầu sẽ thuê Luật sư và có đơn yêu cầu giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy dành quyền khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho bị hại Ngô Văn C bằng một vụ án dân sự khác khi có yêu cầu.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Căn cứ vào Điểm đ Khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Các bị cáo Vũ Mạnh C và Lê Văn H phạm tội “Cố ý gây thương tích”

2. Về hình phạt:

Áp dụng: Điểm đ Khoản 2 Điều 134, Điểm h Khoản 1 Điều 52, Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 17, Điều 58, Khoản 2 Điều 56, Khoản 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Vũ Mạnh C 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù.

Tổng hợp với hình phạt 01 (một) năm 06 (sáu) tháng 21 (hai mươi mốt) ngày về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo bản án hình sự sơ thẩm số 32/2020/HS-ST ngày 10/7/2020 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 04 (bốn) năm 03 (ba) tháng 21 (hai mươi mốt) ngày tù.

Tổng hợp với hình phạt chưa chấp hành 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng 10 (mười) ngày tù của bản án hình sự sơ thẩm số 84/2020/HS-ST ngày 31/12/2020 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Thanh Hóa.

Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 09 (chín) năm 10 (mười) tháng 01 (một) ngày tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tuyên án (30/12/2024).

Áp dụng: Điểm đ Khoản 2 Điều 134, Điểm h Khoản 1 Điều 52, Điểm b, s Khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 17, Điều 58, Khoản 2 Điều 56 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Lê Văn H 03 (ba) năm tù. Tổng hợp với hình phạt chưa chấp hành là 02 (hai) năm 05 (năm) tháng 13 (mười ba) ngày tù của bản án hình sự sơ thẩm số 37/20..../HS-ST ngày 30/6/20.... của Tòa án nhân dân huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là 05 (năm) năm 05 (năm) tháng 13 (mười ba) ngày tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tuyên án (30/12/2024).

3. Về trách nhiệm dân sự: Dành quyền khởi kiện bằng vụ án dân sự khác cho bị hại Ngô Văn C khi có yêu cầu bồi thường thiệt hại về sức khỏe.

4. Về án phí: Áp dụng Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc các bị cáo Vũ Mạnh C và Lê Văn H, mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Các bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ