- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lương Gia H và các bị cáo khác - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 348 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 105/2024/HS-PT Ngày: 08-4-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Việt Cường
Các Thẩm phán:
Ông Nguyễn Chí Công
Ông Nguyễn Tấn Long.
- Thư ký phiên tòa: Bà Văn Thị Mỹ Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vân - Kiểm sát viên.
Ngày 08-4-2024, từ điểm cầu trung tâm tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng kết nối với điểm cầu thành phần tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm công khai bằng hình thức trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số 80/2024/TLPT-HS ngày 3 0 2024 đối với b cáo Lương Gia H và các b cáo khác. Do có kháng cáo của các b cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 36 2023 HSST ngày 28-12-2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.
Các bị cáo kháng cáo:
1. Lương Gia H, sinh ngày 25-5- 996, tại Gia Lai; nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: Hẻm D N, tổ A, phường H, thành phố P, tỉnh Gia Lai; dân tộc: Kinh; quốc t ch: Việt Nam; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; trình độ văn hóa:
2; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Lương Thành C và bà Nguyễn Th Phương A; tiền án, tiền sự: Không.
B cáo b bắt ngày 6-6-2023, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh G, có mặt tại điểm cầu thành phần.
2. Hồ Văn N, sinh ngày 3-3- 99 , tại Gia Lai; nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: Tổ A, phường H, thành phố P, tỉnh Gia Lai; dân tộc: Kinh; quốc t ch: Việt Nam; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; trình độ văn hóa: 0 2; nghề nghiệp: Sửa chữa thủy lực máy múc; con ông Hồ Văn S (đã chết) và bà Nguyễn Th Thu H ; tiền án, tiền sự: Không.
B cáo b bắt ngày 6-6-2023, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh G, có mặt tại điểm cầu thành phần.
3. Nguyễn Thanh V, sinh ngày 27-8- 992, tại Gia Lai; nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: Tổ B, phường H, thành phố P, tỉnh Gia Lai; dân tộc: Kinh; quốc t ch: Việt Nam; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; trình độ văn hóa: 0 2; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Nguyễn Văn T và bà Trần Th L; vợ là Nguyễn Th Ngọc T và có 0 con; tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 24-9-2010, Công an thành phố P khởi tố vụ án, khởi tố b can về tội “Cố ý gây thương tích”; ngày 5-02-20 , Tòa án nhân dân thành phố Pleiku ban hành Quyết đ nh đình chỉ vụ án số 02 20 HSST-QĐ (người yêu cầu khởi tố rút đơn).
B cáo b bắt, tạm ngày 6-6-2023; đến ngày 2-9-2023, được thay đổi bằng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại điểm cầu thành phần.
4. Mai Thanh L1, sinh ngày 28-4-2004, tại Gia Lai; nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: Tổ A, phường H, thành phố P, tỉnh Gia Lai; dân tộc: Kinh; quốc t ch: Việt Nam; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; trình độ văn hóa: 09 2; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Mai Thanh H2 và bà Trần Th T2; tiền án, tiền sự: Không.
B cáo b bắt, tạm giam ngày 6-6-2023; đến ngày 2-9-2023, được thay đổi bằng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại điểm cầu thành phần.
Người tham gia tố tụng có liên quan đến kháng cáo:
- Người bào chữa cho bị cáo Lương Gia H:
Luật sư Đặng Ngọc B - Văn phòng L5, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh G, có mặt tại điểm cầu thành phần.
- Người bào chữa cho bị cáo Mai Thanh L1:
Luật sư Phạm Ngọc Q - Công ty L6, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh gia L, có mặt tại điểm cầu thành phần.
- Người đại diện hợp pháp của bị hại (bố, mẹ và em gái):
1. Ông Nguyễn Văn T3, sinh năm 959; Tổ A, phường Y, thành phố P, tỉnh Gia Lai, vắng mặt.
2. Bà Tạ Th T4, sinh năm 948; Tổ A, phường Y, thành phố P, tỉnh Gia Lai, vắng mặt.
3. Ch Nguyễn Th Mai L2, sinh năm 99 (là bố, mẹ và em ruột b hại); đ a chỉ cư trú: Tổ A, phường Y, thành phố P, tỉnh Gia Lai, vắng mặt.
(Vụ án còn có 04 bị cáo khác, nhưng không kháng cáo, không bị kháng nghị; có 04 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và có 06 người làm chứng, nhưng không liên quan đến kháng cáo, do đó Hội đồng xét xử phúc thẩm không triệu tập).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng giờ 00 phút ngày 5-6-2023, Lương Gia H, Nguyễn Ngọc P, Nguyễn Thanh V, Hồ Văn N, Mai Thanh L1 và Nguyễn Đình H3 (sinh năm 999, trú tại Tổ A, phường P, thành phố P, tỉnh Gia Lai) cùng với Nguyễn Quang N (sinh năm 200 , trú tại Làng N, phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai) uống bia tại quán B2 (Số H V, thành phố P, tỉnh Gia Lai). Đến khoảng 5 giờ, cả nhóm đi đánh B1 tại quán “Anh T5” đường W, thành phố P. Khoảng hơn 2 giờ, Lương Gia H rủ Nguyễn Ngọc P, Hồ Văn N, Nguyễn Thanh V, Mai Thanh L1, Nguyễn Đình H3 và
Nguyễn Quang N1 đến quán K “Giọt Nước” thuộc tổ C, phường Y, thành phố P, tỉnh Gia Lai để hát, tất cả đồng ý. Đến nơi, Gia H, N, L1, Đình H3 và N1 đi vào Phòng hát số 02 trước, còn P và V đi ăn tối ở chợ Đ. Cùng lúc này, có một nhóm 08 người, gồm: Nguyễn Minh T6, Mai Văn T7, Nguyễn Quốc N2, Hà Duy L3, Nguyễn Văn L4, Nguyễn Văn T8,
Dương Ngọc T9 và T8 (không xác đ nh được lai l ch) đang ngồi ghế Salon trước Phòng hát số 02 và số 03 để chờ tính tiền đi về.
Khi đó, ch Đào Th Yến P (chủ quán Karaoke “Giọt nước”) đi vào Phòng hát số 02 nói với nhóm Lương Gia H thông cảm, hôm sau đến hát, vì thời gian đã muộn, thì Lương Gia H năn nỉ ch P1 để cho Nhóm của H hát. Lúc này, Nguyễn Minh T6 đi ngang qua Phòng hát số 02 nói “Làm gì mà nhìn, muốn gì”, H ở trong phòng nói ra “Ông muốn gì”. Sợ hai bên xảy ra đánh nhau, ch P1 đi ra khỏi Phòng số 02 và khép cửa lại, khuyên nhóm của T6 đi về, nhưng T6 vẫn không ch u về mà đứng trước cửa Phòng số 02. Lương Gia H đứng phía trong phòng gần cửa ra vào và nói: “Mẹ thằng kia muốn kiếm chuyện hay sao á”. Khi đó, nhóm của Lương Gia H đứng trong Phòng số 02 vẫn khép cửa lại và T6 đứng phía ngoài, nên chưa xảy ra sự việc gì. Đến khoảng 2 giờ 45 phút cùng ngày, Nguyễn Ngọc P và Nguyễn Thanh V mới đến quán K. Khi thấy P và V đến đứng trước cửa Phòng số 02, thì H mới mở cửa đi ra ngoài và nhìn về phía T6 nói: “Lúc nãy mày nói và muốn gì, ý mày giờ thích sao”, thì T6 nói: “Mày thích gì tao chiều đó”. Lúc này, Nguyễn Quốc N2 và Nguyễn Minh T6 đứng nhìn về hướng Lương Gia H tiếp tục có lời nói thách thức, khiêu khích, H nói lại thì b N2 dùng chân đạp vào người H. Ngay lập tức, nhóm H gồm Lương Gia H, Mai Thanh L1, Hồ Văn N, Nguyễn Thanh V xông vào đánh nhau với nhóm T6 gồm Nguyễn Minh T6, Mai Văn T7, Hà Duy L3 và Nguyễn Quốc N2. Còn Nguyễn Ngọc P đi ra ngoài sân đến chỗ xe máy của mình lấy một con dao nhọn để sẵn trong cốp xe rồi đi vào và P cầm dao nhọn bằng tay phải xông vào đánh nhóm T6.
Thấy hai nhóm đánh nhau, ch Đào Th Yến P2 cùng ch Võ Th Tuyết O (nhân viên của quán), Nguyễn Đình H3 (nhóm H3); Nguyễn Văn L4 (nhóm T6) và T8 (nhóm T6) vào can ngăn, nên hai nhóm tách ra không đánh nhau nữa. T6 quay lưng đi ra hướng quầy tính tiền, thì b Nguyễn Thanh V chạy theo dùng tay đấm mạnh vào đầu của T6. B đấm vào đầu, T6 quay mặt lại chỉ tay về phía V và H3 tiếp tục thách thức, thì ch O ngăn cản, còn Nguyễn Quốc N2 đứng gần bức tường giữa phòng hát và phòng thu tiền nói: “Vào đập tụi nó luôn”. Khi đó P đang cầm dao trên tay đ nh xông ra, thì b Nguyễn Văn L4 bên nhóm của T6 cản lại.
Bực tức vì b đánh và thách thức, Lương Gia H giật lấy con dao nhọn trên tay của P đuổi theo nhóm T6. Nguyễn Thanh V cũng đ nh chạy đuổi theo nhóm của T6, nhưng Nguyễn Văn L4 cản lại. Khi đến trước quầy thu tiền (cách Phòng hát số 02 khoảng 05 m), Lương Gia H chạy đến cầm dao nhọn bằng tay phải đâm ba nhát hướng vào người của anh T6, nhưng chỉ có một nhát trúng vào vùng ngực phải và một nhát sượt qua cánh tay phải của anh T6. B đâm, anh T6 đi ra hướng ngoài sân để xe và nói với cả nhóm là mình b đâm, nên được đưa đi cấp cứu. Trên đường đưa đi cấp cứu, anh T6 chết.
Còn Lương Gia H sau khi dùng dao nhọn đâm anh T6, thì quay lại trước sân Phòng hát số 02 và được P đưa cho vỏ bọc dao. Lúc này, do sợ H dùng dao nhọn đánh nhau, nên Nguyễn Quang N đã lấy con dao và vỏ bọc dao trên tay của H rồi bỏ dao vào trong bọc, cất giấu bên hông lưng túi quần. Sau đó, cả nhóm đi về, G đến cầu H, thành phố P vứt con dao xuống dưới cầu.
Ngày 6-6-2023, Lương Gia H, Mai Thanh L1, Hồ Văn N, Nguyễn Thanh V và Nguyễn Ngọc P đến phòng C , Công an tỉnh G đầu thú và khai báo toàn bộ hành vi phạm tội.
Tại Kết luận giám định tử thi số 558/KLGĐTT-KTHS ngày 05-7-2023, Công an tỉnh G kết luận:
Nguyên nhân chết của Nguyễn Minh T6 là S1 tuần hoàn do vết thương gây thủng thùy trên phổi phải, xuống dưới gây rách cơ hoành xuyên qua gan phải.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 136/2023/HSST ngày 28-12-2023, Toà án nhân dân tỉnh Gia Lai quyết định:
1. Áp dụng điểm n khoản Điều 23; các điểm b, s khoản , khoản 2 Điều 5 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt:
Lương Gia Huy 14 (mười bốn) năm tù về tội “Giết người”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 6-6-2023.
2. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 3 8; các điểm b, s khoản , khoản 2 Điều 5 , Điều 38 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt:
Hồ Văn N 30 (ba mươi) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 6-6-2023.
3. Áp dụng khoản Điều 3 8; các điểm b, s, i khoản , khoản 2 Điều 5 , Điều 38 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt:
Nguyễn Thanh V 15 (mười lăm) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày b cáo thi hành án (được trừ thời gian tạm giam từ ngày 6-6-2023 đến ngày 2-9-2023).
4. Áp dụng khoản Điều 3 8; các điểm b, s, i khoản , khoản 2 Điều 5 , Điều 38 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt:
M (chín) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày b cáo thi hành án (được trừ thời gian tạm giam từ ngày 6-6-2023 đến ngày 2-9-2023).
Về trách nhiêm dân sự:
Áp dụng Điều 48 của Bộ luật Hình sự; Điều 59 của Bộ luật Dân sự.
“Công nhận sự thỏa thuận của b cáo Lương Gia H và đại diện hợp pháp của b hại Nguyễn Minh T6 như sau:
B cáo Lương Gia H phải tiếp tục bồi thường 24.000.000 đồng (hai mươi bốn triệu đồng); phải cấp dưỡng nuôi bố, mẹ của b hại là ông Nguyễn Văn T 0 bà Tạ Th T4. mnức cấp dưỡng 2.500.000 đồng người tháng. Thời điểm cấp dưỡng kể từ ngày 24-9-2023, cho đến khi người được cấp dưỡng chết.
Toàn bộ số tiền bồi thường, tiền cấp dưỡng trên giao ông Nguyễn Văn T3 và bà Tạ Th T4 nhận”.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết đ nh về hình phạt đối với các b cáo: Nguyễn Ngọc P, Nguyễn Quốc N2, Mai Văn T7 và Hà Duy L3; tuyên về xử lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo và thi hành án dân sự theo quy đ nh của pháp luật.
- Ngày 03-01-2024, Lương Gia H kháng cáo xin giảm hình phạt và xin giảm tiền cấp dưỡng.
- Ngày 02-01-2024, Hồ Văn N kháng cáo xin giảm hình phạt.
- Ngày 03-01-2024 và ngày 08-01-2024, Nguyễn Thanh V và Mai Thanh L1 kháng cáo xin được hưởng án treo.
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên toà,
NH N Đ NH CỦA TÒA ÁN:
[ ]. Sau khi xét xử sơ thẩm, các b cáo kháng cáo bản án; đơn kháng cáo của các b cáo là trong thời hạn quy đ nh tại khoản Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự, do đó Hội đồng xét xử quyết đ nh đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm.
Tại phiên tòa, b cáo Lương Gia H rút nội dung kháng cáo xin giảm hình phạt, giữ nguyên nội dung kháng cáo xin giảm tiền cấp dưỡng; các b cáo Hồ Văn N, Nguyễn Thanh V và Mai Thanh L1 rút toàn bộ kháng cáo; đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng đề ngh Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ Điều 348, điểm a khoản Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo về phần Trách nhiệm hình sự của các b cáo Lương Gia H, Hồ Văn N, Nguyễn Thanh V và Mai Thanh L1.
- Không chấp nhận nội dung kháng cáo đề ngh giảm tiền cấp dưỡng của b cáo Lương Gia H.
- Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 36 2023 HSST ngày 28-12-2023 của Toà án nhân dân tỉnh Gia Lai về phần Trách nhiệm dân sự đối với Lương Gia H.
[2]. Xét kháng cáo của b cáo:
[2. ]. Về tội danh và hình phạt:
Do các b cáo Lương Gia H, Hồ Văn N, Nguyễn Thanh V và Mai Thanh L1 đều rút kháng cáo về phần Trách nhiệm hình sự, nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét về tội danh và hình phạt đối với các b cáo; đồng thời, xét thấy việc rút kháng cáo của các b cáo là tự nguyện, nên Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của các b cáo về nội dung này.
[2.2]. Về Trách nhiệm dân sự:
Ngoài kháng cáo xin giảm hình phạt, Lương Gia H còn kháng cáo đề ngh giảm tiền cấp dưỡng. Xét thấy, tại giai đoạn sơ thẩm, b cáo thỏa thuận với người đại diện hợp pháp của b hại, có nội dung b cáo tiếp tục bồi thường 24.000.000 đồng và cấp dưỡng nuôi bố, mẹ của b hại là ông Nguyễn Văn T3, bà Tạ Th T4, mức cấp dưỡng 2.500.000 đồng người tháng cho đến khi người được cấp dưỡng chết và thỏa thuận này đã được Tòa án cấp sơ thẩm ghi nhận. Như vậy, mức cấp dưỡng như trên là phù hợp và việc cấp dưỡng này là do b cáo tự nguyện; do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm không có căn cứ để giảm tiền cấp dưỡng cho b cáo.
[3]. Kiến ngh giám đốc thẩm:
[3. ]. Về hình phạt đối với Lương Gia H:
Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn với b hại là do hành vi của Lương Gia H; đồng thời, khi xảy ra xô xát, b cáo là người giật dao từ Nguyễn Ngọc P rồi đâm anh T6 chết. Hành vi của b cáo là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, chỉ vì mâu thuẫn rất nhỏ, b cáo đã sử dụng hung khí nguy hiểm trực tiếp tước đoạt tính mạng của người khác, nên thuộc trường hợp phạm tội: “Có tính chất côn đồ”. Mặc dù, sau khi phạm tội, b cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại, nhưng hành vi phạm tội của b cáo thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng; gây mất trật tự tr an đ a phương và gây dư luận rất xấu trong nhân dân. Vì vậy, hình phạt 4 (mười bốn) năm tù mà Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt đối với b cáo là không tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của b cáo.
Sau khi xét xử sơ thẩm, b hại không kháng cáo, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân không kháng ngh theo hướng tăng hình phạt đối với b cáo; đồng thời, tại phiên tòa phúc thẩm b cáo rút kháng cáo, nên Hội đồng xét xử phúc thẩm thực hiện quyền kiến ngh theo thủ tục giám đốc thẩm theo đúng quy đ nh của pháp luật.
[3. ]. Về hành vi của Hồ Văn N, Nguyễn Thanh V, Mai Thanh L1 và Nguyễn Ngọc P:
Thời điểm hai nhóm đánh nhau, Nguyễn Ngọc P đã đi ra ngoài sân lấy một con dao nhọn để trong cốp xe máy của mình rồi xông vào đánh nhau với nhóm của b hại Nguyễn Minh T6 nhưng b Nguyễn Văn L4 (nhóm b hại) cản lại. Sau khi hai nhóm ngừng đánh nhau, anh Nguyễn Minh T6 quay lưng đi về hướng quầy tính tiền liền b Nguyễn Thanh V chạy theo dùng tay đánh mạnh vào đầu. Hành vi này của V chính là nguyên nhân dẫn đến việc hai bên tiếp tục thách thức đánh nhau và sau đó Lương Gia H đã dùng dao nhọn đâm chết anh T6. Các b cáo Hồ Văn N và Mai Thanh L1 đã cùng với nhóm của mình đánh nhau bằng tay chân với nhóm của b hại T6. Trong lúc đánh đánh nhau, N còn dùng mũ bảo hiểm đập mạnh về phía Hà Duy L3 (nhóm b hại).
Như vậy, mặc dù Nguyễn Ngọc P, Nguyễn Thanh V, Hồ Văn N và Mai Thanh L1 không trực tiếp gây ra cái chết cho anh Nguyễn Minh T6, nhưng ngay từ đầu các b cáo đã cùng với Lương Gia H thách thức, đánh nhau với nhóm b hại T6. Chính Nguyễn Ngọc P là người ra cốp xe máy lấy dao nhọn (là hung khí nguy hiểm) với mục đích dùng để đánh, chém nhau với nhóm b hại, nhưng ngay sau đó b Lương Gia H giật con dao này chạy theo đâm chết anh T6. Các b cáo còn lại là Nguyễn Thanh V, Hồ Văn N và Mai Thanh L1 đã có hành vi hò hét, kích động nhóm của mình xông vào đánh nhau; trong đó, V là người chạy theo đấm mạnh vào đầu b hại T6, làm cho hai nhóm tiếp tục đánh nhau dẫn đến việc H dùng dao nhọn đâm anh T6 chết.
Trong vụ án này, các b cáo thực hiện hành vi với tính chất, mức độ khác nhau nhưng đều tham gia ngay từ đầu như chuẩn b hung khí, hò hét dẫn đến việc H đã dùng dao nhọn đâm chết anh T6. Do đó, có cơ sở để xác đ nh các b cáo đã cùng chung ý chí, cùng chung hành động với Lương Gia H, nên các b cáo phải cùng ch u trách nhiệm hình sự về hậu quả mà Lương Gia H đã gây ra.
[3.3]. Với hành vi phạm tội như đã nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm chỉ xét xử các b cáo Nguyễn Ngọc P, Nguyễn Thanh V, Hồ Văn N và Mai Thanh L1 về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo Điều 3 8 của Bộ luật Hình sự là không đúng tội danh, có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm kiến ngh Chánh án Tòa án nhân dân tối cao hủy bản án hình sự phúc thẩm của Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng và bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai để điều tra lại, truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các b cáo Nguyễn Ngọc P, Nguyễn Thanh V, Hồ Văn N và Mai Thanh L1 về tội “Giết người” theo Điều 23 của Bộ luật Hình sự; đồng thời, tăng hình phạt về tội “Giết người” đối với Lương Gia H.
[4]. Các quyết đ nh khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không b kháng cáo, kháng ngh , Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét.
[5]. Về án phí:
Lương Gia H, Nguyễn Thanh V, Hồ Văn N và Mai Thanh L1 rút kháng cáo tại phiên tòa phúc thẩm, nên các b cáo không phải ch u án phí hình sự phúc thẩm.
Lương Gia H không được chấp nhận kháng cáo về phần Trách nhiệm dân sự, nên phải ch u án phí dân sự phúc thẩm theo quy đ nh của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT Đ NH:
1. Căn cứ Điều 348 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Đình chỉ xét xử đối với kháng cáo về phần Trách nhiệm hình sự của các b cáo Lương Gia H, Hồ Văn N, Nguyễn Thanh V và Mai Thanh L1.
- Phần Trách nhiệm hình sự của các b cáo Lương Gia H, Hồ Văn N, Nguyễn Thanh V và Mai Thanh L1 tại Bản án hình sự sơ thẩm số 36 2023 HSST ngày 28-12-2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai có hiệu lực thi hành.
2. Căn cứ điểm a khoản Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Không chấp nhận kháng cáo về phần Trách nhiệm dân sự của Lương Gia H.
- Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 36 2023 HSST ngày 28-12-2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai về phần Trách nhiệm dân sự đối với Lương Gia H.
3. Về trách nhiêm dân sự:
Áp dụng Điều 48 của Bộ luật Hình sự; Điều 59 của Bộ luật Dân sự.
“Công nhận sự thỏa thuận của b cáo Lương Gia H và đại diện hợp pháp của b hại Nguyễn Minh T6 như sau:
B cáo Lương Gia H phải tiếp tục bồi thường 24.000.000 đồng (hai mươi bốn triệu đồng); phải cấp dưỡng nuôi bố, mẹ của b hại là ông Nguyễn Văn T 0 bà Tạ Th T4, mức cấp dưỡng 2.500.000 đồng người tháng. Thời điểm cấp dưỡng kể từ ngày 24-9-2023, cho đến khi người được cấp dưỡng chết.
Toàn bộ số tiền bồi thường, cấp dưỡng trên giao ông Nguyễn Văn T3 và bà Tạ Th T4 nhận”.
4. Căn cứ Điều 37 và Điều 372 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Kiến ngh Chánh án Tòa án nhân dân tối cao xem xét kháng ngh theo thủ tục giám đốc thẩm đối với Bản án hình sự phúc thẩm số 05 HS-PT ngày 08-4-2024 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng và Bản án hình sự sơ thẩm số 36 2023 HS-ST ngày 28-12-2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai theo hướng hủy toàn bộ bản án hình sự phúc thẩm và bản án hình sự sơ thẩm để điều tra lại, truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Nguyễn Ngọc P, Nguyễn Thanh V, Hồ Văn N và Mai Thanh L1 về tội “Giết người” theo Điều 23 của Bộ luật Hình sự; đồng thời, khi xét xử sơ thẩm lại tăng hình phạt về tội “Giết người” đối với Lương Gia H.
4. Các quyết đ nh khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không b kháng cáo, kháng ngh đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng ngh .
5. Về án phí:
Căn cứ khoản 2 Điều 36 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm e khoản 2 Điều 23, khoản Điều 29 Ngh quyết 326 20 6 UBTVQH 4 ngày 30-12-20 6 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy đ nh về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Lương Gia H phải ch u 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự phúc thẩm.
6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TANDTC - Vụ I (02 bản, kèm hồ sơ vụ án); - TAND tỉnh Gia Lai; - VKSNDCC tại Đà Nẵng; - VKSND tỉnh Gia Lai; - Cơ quan CSĐT - Công an tỉnh Gia Lai; - Trại tạm giam Công an tỉnh Gia Lai (03 bản, để giao cho H và N, mỗi b cáo 0 bản); - Sở Tư pháp tỉnh Gia Lai; - Cục THA dân sự tỉnh Gia Lai; - Các b cáo L, V (theo đ a chỉ); - Lưu: Hồ sơ vụ án, Phòng HCTP, LTHS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Phạm Việt Cường |