vanban.org

Bản án 105/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử thuận tình ly hôn giữa chị Lã Thị H và anh Vương Ngọc H1.

Về con chung: Giao con chung là cháu Vương Khánh L, sinh ngày 29/8/2021 cho anh Vương Ngọc H1 trực tiếp chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng. Chị H không phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh H1. Không ai được ngăn cản quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng con chung. Về án phí: Chị … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Lã Thị H và anh Vương Ngọc H khởi kiện ly hôn, nuôi con chung"
  • Tòa quyết gì? Xử thuận tình ly hôn giữa chị Lã Thị H và anh Vương Ngọc H1.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NGHĨA HƯNG
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 105/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 20 - 8 - 2024
V/v: Kiện xin ly hôn, con chung

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA HƯNG TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Trọng Ích

Các hội thẩm nhân dân:

1. Bà Dương Thị Vui

2. Ông Đàm Văn Kiều

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thu Hiền - Thư ký Toà án nhân dân huyện Nghĩa Hưng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Hưng tham gia phiên toà: Bà Hồ Thị Hồng Gấm - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Nghĩa Hưng mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 58/2024/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 4 năm 2024 về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 51/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Lã Thị H sinh năm 2003;

Địa chỉ: Xóm A, xã P, huyện N, tỉnh Nam Định.

Bị đơn: Anh Vương Ngọc H1, sinh năm 2000;

Địa chỉ: Xóm D, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định.

Tại phiên tòa vắng mặt chị H, anh H1.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại phiên tòa hôm nay chị Lã Thị H vắng mặt, chị H có đơn xin xét xử vắng mặt. Trong đơn khởi kiện, bản tự khai cũng như quá trình tham gia tố tụng tại toà án thể hiện: Chị và anh Vương Ngọc Hải đăng k kết hôn vào ngày 15/12/2021 tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện N, tỉnh Nam Định trên cơ sở tự nguyện, không bị lừa dối ép buộc. Ngay sau khi kết hôn vợ chồng về chung sống không hạnh phúc, mâu thuẫn phát sinh. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống cũng như trong sinh hoạt. Hai bên gia đình đã khuyên giải nhiều lần nhưng tình cảm không được cải thiện. Vợ chồng đã ly thân từ giữa năm 2022. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị đề nghị Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Hưng giải quyết cho chị được ly hôn với anh Vương Ngọc H1.

Về con chung: Chị H xác định vợ chồng có 01 con chung là cháu Vương Khánh L, sinh ngày 29/08/2021. Ly hôn chị H nhất trí để anh H1 trực tiếp nuôi con và chị không đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung hàng tháng cùng anh H1.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị H xác nhận vợ chồng không có tài sản chung.

Về án phí: Chị Lã Thị H đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại phiên toà hôm nay anh Vương Ngọc H1 vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt). Tại bản tự khai anh H1 trình bày: Anh và chị Lã Thị H đăng ký kết hôn tháng 12/2021 tại UBND xã N trên cơ sở tự do tìm hiểu. Vợ chồng chung sống được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là bất đồng quan điểm sống; chị H đã tự ý bỏ về nhà bố mẹ đẻ và vợ chồng ly thân từ cuối năm 2022. Nay chị H có đơn xin ly hôn, anh nhất trí thuận tình ly hôn với chị H. Về con chung: Anh H1 xác nhận vợ chồng có một con chung là cháu Vương Khánh L, sinh ngày 29/08/2021. Từ khi ly thân chị H đã để lại con cho anh nuôi dưỡng. Vì vậy ly hôn anh xin được trực tiếp nuôi cháu Khánh L và không yêu cầu chị H đóng góp nuôi con chung cùng anh. Về tài sản chung: Anh H1 xác định vợ chồng không có tài sản chung.

Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên toà phát biểu ý kiến:

+ Về tố tụng: Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến xét xử tại phiên toà hôm nay Thẩm phán thụ lý giải quyết cũng như Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

+ Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 55, 81, 82, 83 Luật HNGĐ năm 2014; Đề nghị HĐXX chấp nhận đơn khởi kiện của chị Lã Thị H, xử thuận tình ly hôn giữa chị Lã Thị H và anh Vương Ngọc H1. Con chung xử giao cháu Vương Khánh L, sinh ngày 29/8/2021 cho anh H1 trực tiếp nuôi dưỡng, chị H không phải cấp dưỡng nuôi con sau ly hôn. Áp dụng Điều 147 BLTTDS; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH/14, đề nghị Tòa án tuyên án phí dân sự sơ thẩm chị H phải nộp theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào lời trình bày của đương sự và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Bị đơn anh Vương Ngọc Hải đăng k hộ khẩu thường trú tại xóm D, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định. Chị Lã Thị H có đơn xin ly hôn anh Vương Ngọc H1 và Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Hưng thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền.

Tại phiên tòa hôm nay anh Vương Ngọc H1 vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt; chị Lã Thị H cũng có đơn xin xét xử vắng mặt. Vì vậy, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh H1, chị H là phù hợp với khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Việc kết hôn giữa chị Lã Thị H và anh Vương Ngọc H1 vào năm 2021 trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N là hôn nhân tự do, tiến bộ. Ngay sau khi kết hôn vợ chồng chung sống không hạnh phúc, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do không tìm được tiếng nói chung trong sinh hoạt, bất đồng quan điểm sống, dẫn đến cãi chửi nhau, gia đình hoà giải nhưng không thành vợ chồng ly thân nhau sau một năm chung sống. Nay chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Hưng giải quyết vợ chồng được ly hôn. Bản thân anh H1 cũng có lời khai nhất trí thuận tình ly hôn với chị H. Đại diện viện kiểm sát tham gia phiên tòa có quan điểm đề nghị Hội đồng xét xử xử thuận tình ly hôn giữa chị H và anh H1. Xét việc xin ly hôn của chị H và anh H1 cũng nhất trí thuận tình ly hôn thấy là hoàn toàn tự nguyện, không trái đạo đức xã hội, không vi phạm điều cấm của pháp luật vì vậy được chấp nhận.

Về con chung: Chị H và anh H1 đều thống nhất vợ chồng có một con chung là cháu Vương Khánh L, sinh ngày 29/08/2021. Hiện cháu đang sống với anh H1. Chị H và anh H1 đều thống nhất vợ chồng ly hôn, anh H1 trực tiếp nuôi cháu Khánh L và chị H không phải đóng góp nuôi con chung cùng anh H1. Xét việc thoả thuận nuôi con chung của chị H và anh H1 thấy là hoàn toàn tự nguyện, không trái đạo đức xã hội, không vi phạm điều cấm của pháp luật vì vậy được chấp nhận.

Về tài sản chung: Chị Lã Thị H và anh Vương Ngọc H1 đều xác nhận vợ chồng không có tài sản chung nên HĐXX không xem xét.

Về án phí: Chị Lã Thị H phải nộp án phí dân dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 55, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ Điều 147; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 6 và Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

1. Xử thuận tình ly hôn giữa chị Lã Thị H và anh Vương Ngọc H1.

2. Về con chung: Giao con chung là cháu Vương Khánh L, sinh ngày 29/8/2021 cho anh Vương Ngọc H1 trực tiếp chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng. Chị H không phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh H1. Không ai được ngăn cản quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng con chung.

3. Về án phí: Chị Lã Thị H phải nộp án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị H đã nộp theo biên lai số 0001374 ngày 16/4/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Nghĩa Hưng, chị H đã nộp đủ án phí.

Án xử công khai sơ thẩm vắng mặt nguyên đơn, bị đơn. Báo cho đương sự vắng mặt biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án và người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ