vanban.org

Bản án 105/2023/HSST — Hình sự

TAND huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam Tuyên án 23/11/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộn cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THANH LIÊM
TỈNH HÀ NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 105/2023/HS-ST
Ngày: 23 - 11 - 2023.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH LIÊM - TỈNH HÀ NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: ông Trần Văn Cảnh.

Các Hội thẩm nhân dân: bà Lê Thị Hà và ông Quách Xuân Luyện.

- Thư ký phiên toà: ông Vũ Hoàng Anh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam tham gia phiên toà: ông Từ Văn Tiền - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 94/2023/TLST-HS ngày 12 tháng 10 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 105/2023/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 11 năm 2023, đối với bị cáo:

- Trần Đình C - sinh năm 1991; nơi cư trú: thôn T, xã T X, thành phố P L, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Đình T và bà Nguyễn Thị P; vợ con: chưa có; tiền án: ngày 24/11/2020, bị Tòa án nhân dân huyện Bình Lục xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 24/5/2022; tiền sự: không; nhân thân: ngày 12/4/2012, bị Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam xử phúc thẩm, xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; ngày 30/4/2014, bị Công an xã Trịnh Xá, thành phố Phủ Lý ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính, phạt 500.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”; ngày 05/5/2014, bị Chủ tịch UBND xã Trịnh Xá ra Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã trong thời hạn 03 tháng; ngày 11/3/2015, bị Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; ngày 10/6/2017, bị Công an huyện Thanh Liêm ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính, phạt 1.500.000 đồng về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; ngày 18/7/2017, bị Phòng CSĐT tội phạm về ma túy - Công an tỉnh Hà Nam ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính Cảnh cáo về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”; ngày 11/12/2017, bị Phòng CSĐT tội phạm về ma túy - Công an tỉnh Hà Nam ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính Cảnh cáo về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; ngày 10/9/2018, bị Chủ tịch UBND xã Trịnh Xá, thành phố Phủ Lý ra Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã trong thời hạn 03 tháng; ngày 28/12/2018, bị Phòng CSĐT tội phạm về ma túy - Công an tỉnh Hà Nam ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính Cảnh cáo về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”; ngày 06/5/2020, bị Công an xã Đinh Xá, thành phố Phủ Lý ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính, phạt 1.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 07/8/2023 đến ngày 16/8/2023 chuyển tạm giam. Hiện nay đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hà Nam, có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: anh Nguyễn Đắc N - sinh năm 1983 và chị Lâm Thị Anh Đ - sinh năm 1988; người đại diện theo ủy quyền của chị Lâm Thị Anh Đ: anh Nguyễn Đắc N - sinh năm 1983; cùng nơi cư trú: thôn N C, xã L C, huyện T L, tỉnh Hà Nam; vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: chị Trần Thị M - sinh năm 1989; nơi cư trú: Xóm 3, xã T A, huyện B L, tỉnh Hà Nam; vắng mặt.

- Người làm chứng: ông Nguyễn Thanh H; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Đình C là đối tượng có nhân thân xấu và 01 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản”. Sáng ngày 07/8/2023, C điều khiển xe mô tô BKS 90B3-140… đi trên các tuyến đường thuộc địa bàn huyện Thanh Liêm, mục đích để trộm cắp tài sản; khoảng 09 giờ cùng ngày, khi C điều khiển xe mô tô đi qua cổng nhà anh Nguyễn Đắc N thấy không có ai ở nhà, C dừng lại, dựng xe ở ngõ đi ra cánh đồng cạnh nhà anh N, rồi quan sát vào bên trong thấy có 01 con chó lông màu đen vàng đang nhốt trong chuồng chó để ở vườn, C liền trèo qua tường bao vào bên trong, đi tới chỗ chuồng chó mở cửa dùng tay bắt con chó cho vào chiếc bao tải để ở cạnh chuồng chó rồi dùng dây nilon buộc đầu bao tải. Khi C đang xách bao tải đựng con chó trèo qua tường bao ra ngoài thì bị lực lượng Công an huyện Thanh Liêm phối hợp với Công an xã Liêm Cần, huyện Thanh Liêm làm nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát phát hiện bắt quả tang. Lực lượng Công an đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng.

* Vật chứng thu giữ: 01 xe mô tô BKS 90B3-140…; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia; 01 bao tải màu trắng; 01 đoạn dây màu đỏ dài 15cm; 01 con chó màu lông đen vàng, trọng lượng13kg. Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Trần Đình C tại thôn T, xã T X, thành phố P L, nhưng không thu giữ đồ vật, tài liệu gì có liên quan.

Ngày 08/8/2023, Cơ quan CSĐT - Công an huyện Thanh Liêm ra văn bản yêu cầu Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Thanh Liêm xác định giá trị đối với 01 con chó, trọng lượng 13 kg, tại thời điểm ngày 07/8/2023. Tại bản kết luận định giá tài sản số 40/KL-HĐĐGTS ngày 14/8/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Thanh Liêm kết luận: “Giá trị của 01kg chó thịt hơi có giá là 90.000 đồng/1kg. Vậy 01 con chó đực màu lông đen vàng, có trọng lượng 13kg tại thời điểm ngày 07/8/2023 có giá là 13 x 90 = 1.170.000 đồng.

Tại bản Cáo trạng số 96/CT-VKS-SH ngày 11/10/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Liêm đã truy tố Trần Đình C về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

* Tại phiên toà:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Liêm thực hành quyền công tố giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng đã nêu, không có ý kiến bổ sung hoặc thay đổi gì. Sau khi phân tích tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử: tuyên bố bị cáo Trần Đình C phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38; điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: - xử phạt bị cáo Trần Đình C từ 12 đến 15 tháng tù; miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo. Về trách nhiệm dân sự: bị hại không có yêu cầu, đề nghị gì đối với bị cáo, nên không xem xét. Về xử lý vật chứng: tịch thu, tiêu hủy 01 bao tải màu trắng; 01 đoạn dây màu đỏ dài 15cm. Trả lại cho Trần Đình C 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia.

- Bị cáo Trần Đình C đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng đã mô tả và có ý kiến xin giảm nhẹ hình phạt.

NH N Đ NH CỦA T A ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: tại phiên toà cũng như tại Cơ quan điều tra, Trần Đình C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như trong nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận tội của bị cáo được thẩm tra tại phiên tòa phù hợp với chính lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản hiện trường, lời khai của bị hại và của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, vật chứng đã thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để khẳng định: khoảng 09 giờ ngày 07/8/2023, Trần Đình C lén lút trộm cắp 01 con chó có trọng lượng 13kg, trị giá 1.170.000 đồng của nhà anh Nguyễn Đắc N có địa chỉ tại thôn N C, xã L C, huyện T L, tỉnh Hà Nam thì bị lực lượng Công an huyện Thanh Liêm phối hợp với Công an xã Liêm Cần bắt quả tang. Tài sản bị cáo trộm cắp được có trị giá dưới 2.000.000 đồng, nhưng trước đó bị cáo đã bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản”, tính đến ngày 07/8/2023 chưa được xóa án tích, lại thực hiện hành vi trộm cắp tài sản với lỗi cố ý, nên hành vi nêu trên của bị cáo đã phạm vào tội“Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Liêm đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương. Bản thân bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Vì vậy, Hội đồng xét xử thấy cần thiết ra bản án nghiêm khắc tương xứng hành vi phạm tội của bị cáo.

[3] Về nhân thân bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về nhân thân: bị cáo có nhân thân rất xấu nên Hội đồng xét xử cũng xem xét đến yếu tố này khi lượng hình.

Về tình tiết tăng nặng: bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[4] Về hình phạt:

- Hình phạt chính: qua xem xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo; Hội đồng xét xử xét thấy: bị cáo tuổi còn trẻ đã nhiều lần bị kết án về tội “trộm cắp tài sản”, phải đi chấp hành hình phạt tù nhiều năm, bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện bản thân trở thành người có ích cho xã hội, mà lại tiếp tục phạm tội, thể hiện sự coi thường pháp luật, không chịu cải tạo. Vì vậy, cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân lương thiện và phòng ngừa chung.

- Hình phạt bổ sung: bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định, hiện đang bị tạm giam, nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.

[5] Về trách nhiệm dân sự: bị hại không có yêu cầu, đề nghị gì, nên không giải quyết.

[6] Về xử lý vật chứng: đối với 01 bao tải màu trắng; 01 đoạn dây màu đỏ: đây là vật chứng liên quan đến vụ án không còn giá trị sử dụng, nên tịch thu tiêu hủy; đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 150: đây là tài sản hợp pháp của Trần Đình C, không liên quan đến tội phạm của vụ án, nên trả lại cho C.

- Đối với 01 con chó: quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của gia đình anh Nguyễn Đắc N, nên Cơ quan CSĐT- Công an huyện Thanh Liêm đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại con chó cho gia đình anh N là phù hợp pháp luật.

- Đối với 01 xe mô tô BKS 90B3-140…: quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của chị Trần Thị M; ngày 07/8/2023, chị M cho C mượn chiếc xe để làm phương tiện đi lại, chị M hoàn toàn không biết C sử dụng chiếc xe để làm phương tiện đi trộm cắp tài sản, nên Cơ quan CSĐT - Công an huyện Thanh Liêm đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại chiếc xe trên cho chị M là phù hợp pháp luật.

[7] Về án phí: bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT Đ NH:

1. Về hình sự: căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 và điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106, các điều 136, 329, 331 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội,

Tuyên bố: bị cáo Trần Đình C phạm tội “Trộm cắp tài sản”;

- Xử phạt bị cáo Trần Đình C 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ 07/8/2023.

- Về hình phạt bổ sung: miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.

2. Về xử lý vật chứng: tịch thu tiêu hủy 01 bao tải màu trắng, kích thước (51 x 98) cm, in chữ “Tập đoàn Newhope thức ăn hỗn hợp A38) và 01 đoạn dây nilon màu đỏ dài 15cm; trả lại cho bị cáo Trần Đình C 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 150 màu đen đã qua sử dụng (tình trạng vật chứng như trong Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 16/10/2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Thanh Liêm với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Liêm).

3. Về án phí: bị cáo Trần Đình C phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo đối với bản án: bị cáo có mặt tại phiên tòa, được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa, được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

5. Quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu yêu cầu thi hành án: trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tối cao;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN T A

- TAND tỉnh Hà Nam;

- VKSND tỉnh Hà Nam;

- VKSND huyện Thanh Liêm;

- Cơ quan CSĐT - Công an huyện Thanh Liêm;

- Chi cục THA DS huyện Thanh Liêm;

- Trại tạm giam Công an tỉnh Hà Nam;

Trần Văn Cảnh

- Sở Tư pháp tỉnh Hà Nam;

- Cổng thông tin điện tử của Tòa án;

- Bị cáo;

- Bị hại;

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án;

- Lưu hồ sơ vụ án.

Cỡ chữ