vanban.org

Bản án 105/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Tân Uyên, tỉnh Bình Dương Tuyên án 08/05/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lâm Đ phạm tội Cướp giật tài sản.

Về hình phạt: Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 171, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, Xử phạt bị cáo Lâm Đ 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 09/8/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lâm Đ - Cướp tài sản - phạm tội cướp tài sản (điều 133 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lâm Đ phạm tội Cướp giật tài sản.
  • Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 171 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ TÂN UYÊN
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 105/2023/HS-ST
Ngày 08-5-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Ngọc Trung

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Thảo

2. Ông Nguyễn Quốc Dũng

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Thuyến – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Trương Văn Thế - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 77/2023/TLST-HS ngày 28 tháng 3 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 85/2023/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 4 năm 2023, đối với bị cáo:

Lâm Đ, sinh năm 1984, tại Bình Dương; địa chỉ thường trú: Khu phố L, phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lâm Đ (đã chết) và bà Nguyễn Thị M (đã chết); tiền sự: Không;

Tiền án: Năm 2012, bị TAND huyện T, tỉnh Bình Dương xử phạt 30 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, theo bản án số 20/2012/HSST ngày 15/02/2012, chấp hành xong hình phạt tù ngày 20/11/2013, chưa chấp hành bồi thường dân sự;

Nhân thân: Năm 2003, bị TAND huyện T, tỉnh Bình Dương xử phạt 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, theo bản án số 25/HSST ngày 15/02/2012;

Bị cáo bị bắt ngày 09/8/2022, sau đó tạm giam đến nay; (có mặt)

- Bị hại: Bà Đinh Thị Ngọc R, sinh năm 1977; nơi cư trú: Khu phố K, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương. (vắng mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Cao Văn P, sinh năm 1976; nơi cư trú: Khu phố K, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương. (vắng mặt)

- Người làm chứng: Ông Cao Minh T. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lâm Đ làm nghề phụ hồ và thường trú tại khu phố L, phường K, thị xã T, tỉnh Bình Dương.

Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 09/8/2022, bà Đinh Thị Ngọc R cùng chồng là ông Cao Văn P và con trai là ông Cao Minh T đi đến khu vực bờ kè thuộc tổ 4, khu phố K, phường T, thị xã T, Bình Dương để bắt cá. Khi đến nơi, bà R ngồi trên bờ kênh và mượn điện thoại di động hiệu Vivo Y21 màu xanh, trắng của ông P để sử dụng, còn ông P và con tên Tân đi xuống bờ kênh để giăng lưới bắt cá. Đến khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, khi bà R đang ngồi trên bờ kênh cầm điện thoại xem thời sự, lúc này Lâm Đ đi bộ ngang qua thấy bà R cầm điện thoại trên tay nên nảy sinh ý định chiếm đoạt điện thoại của bà R để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Thực hiện ý định, Đ đi bộ lại gần vị trí của bà R hướng phía sau lưng rồi dùng tay trái giật điện thoại di động hiệu Vivo Y21 màu xanh, trắng của bà R đang cầm trên tay nhưng không giật được do bà R giữ chặt điện thoại và giằng co qua lại với Đ, đồng thời bà R tri hô. Khi bà R tri hô, Đ không giật điện thoại nữa mà dùng tay đẩy bà R ngã xuống bờ kênh để tẩu thoát. Ông P và T đang bắt cá dưới mương nghe tiếng tri hô liền chạy lên truy đuổi, bắt giữ được Đ và sau đó bàn giao cho Công an phường T xử lý. Qua làm việc, Đ khai nhận toàn bộ hành vi cướp giật điện thoại của bà R thì bị bắt giữ. Trong lúc bị bắt giữ thì Đ có hành vi đánh lại và cắn vào tay trái của ông Cao Văn P để tẩu thoát. Công an phường T thu giữ: 01 (một) điện thoại di động hiệu Vivo Y21 màu xanh, trắng. Sau khi tiếp nhận tin báo, Công an phường T xác lập hồ sơ ban đầu chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã T giải quyết theo thẩm quyền.

Tại Bản kết luận đinh giá tài sản trong tố tụng số 130/KLHĐĐGTS ngày 28 tháng 10 năm 2022 của Hội đồng định giá tài sản thị xã Tân Uyên xác định giá trị của 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Vivo Y21, số IMEI: 861428057361959; IMEI: 861428057361942 có giá trị là 2.133.000 đồng

Điện thoại di động nhãn hiệu Vivo Y21 là tài sản hợp pháp của ông Cao Văn P. Ngày 29/10/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Tân Uyên đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 379 trả lại cho ông P. Về trách nhiệm dân sự: Sau khi nhận lại tài sản, ông P và bà R không có yêu cầu bồi thường gì.

Tại bản Cáo trạng số 103/CT-VKS.TU ngày 27 tháng 3 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương đã truy tố bị cáo Lâm Đ về tội Cướp giật tài sản theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 171 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Lâm Đ phạm tội Cướp giật tài sản.

Về hình phạt: Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 171, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lâm Đ mức hình phạt từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì khác nên không xem xét giải quyết.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Bị cáo thống nhất với nội dung cáo trạng và không có ý kiến gì trong phần tranh luận. Trong phần lời nói sau cùng, bị cáo nhận thấy hành vi của mình là sai trái và chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Tân Uyên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Về việc tham gia phiên tòa của những người tham gia tố tụng: Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng đã được triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt và có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Quá trình điều tra, lời khai của bị cáo, bị hại, người làm chứng không mâu thuẫn với nhau và với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Bị hại cũng không có yêu cầu gì đối với bị cáo. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát, bị cáo đồng ý xét xử vắng mặt bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng theo quy định tại Điều 292, 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu, chứng cứ thu thập được trong hồ sơ vụ án, phù hợp với lời khai của bị hại, đủ cơ sở kết luận: Ngày 09/8/2022, tại khu phố Khánh Lộc, phường Tân Phước Khánh, thị xã Tân Uyên, Bình Dương, bị can Lâm Đ có hành vi dùng tay trái giật lấy 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Vivo Y21 trị giá 2.133.000 đồng của bị hại Đinh Thị Ngọc R. Khi không giật được điện thoại, bị cáo có hành vi dùng tay đẩy bà R ngã xuống bờ kênh, đánh lại và cắn vào tay trái của người truy đuổi là ông Cao Văn P để tẩu thoát. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì động cơ tư lợi, tham lam nên đã cố ý phạm tội. Do đó, hành vi mà bị cáo thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội Cướp giật tài sản theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên truy tố bị cáo về tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo đã bị xét xử về tội trộm cắp tài sản, chưa được xoá án tích nhưng lại tiếp tục phạm tội thuộc trường hợp tái phạm là tình tiết tăng nặng quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Căn cứ tính chất, mức độ hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của bị cáo, nhận thấy cần phải xử lý nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng răn đe, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về mức hình phạt đối với bị cáo là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Lâm Đ phạm tội Cướp giật tài sản.

2. Về hình phạt: Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 171, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự,

Xử phạt bị cáo Lâm Đ 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 09/8/2022.

3. Về án phí sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Lâm Đ phải chịu số tiền 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ