vanban.org

Bản án 105/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Thủy Nguyên, TP. Hải Phòng Tuyên án 15/08/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Thời hạn tù của bị cáo Bùi Xuân H tính từ ngày 16 tháng 5 năm 2023.

Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 áo khoác màu đen, 01 áo len dài tay màu đen. (Đặc điểm vật chứng theo Biên Bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 07 tháng 7 năm 2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huy… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án hình sự - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Thời hạn tù của bị cáo Bùi Xuân H tính từ ngày 16 tháng 5 năm 2023.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THỦY NGUYÊN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 105/2023/HS-ST
Ngày 15-8-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Minh Huế

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Doãn Văn Sáng

Ông Phạm Văn Sóng

- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Thanh Thủy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Phương - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thủy Nguyên là điểm cầu trung tâm và tại Trại tạm giam Công an thành phố Hải Phòng là điểm cầu thành phần, Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên xét xử trực tuyến sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 89/2023/TLST-HS ngày 12 tháng 7 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 96/2023/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 8 năm 2023 đối với bị cáo:

Bùi Xuân H, sinh ngày 11 tháng 02 năm 1995 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Thôn 1, xã H1, huyện T, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn M và bà Đoàn Thị T1; chưa có vợ, con; tiền sự: Không; tiền án, nhân thân: Quyết định số 236/2018/QĐ-TA ngày 29 tháng 10 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Bùi Xuân H thời hạn 20 tháng, (Đã hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính); Bản án số 95/2016/HSST ngày 31 tháng 5 năm 2016 của Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng xử phạt Bùi Xuân H 12 tháng tù về tội Cướp giật tài sản (đã được xóa án tích); Bản án số 153/2021/HSST ngày 30 tháng 12 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng xử phạt xử phạt Bùi Xuân H 15 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (chưa được xóa án tích). Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 16 tháng 5 năm 2023 đến nay; có mặt.

- Bị hại: Chị Nguyễn Thị H2, sinh năm 1981; Nơi cư trú: Thôn N, xã P, huyện T, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

- Người làm chứng: Anh Nguyễn Văn H3, ông Phạm Văn N1.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 05 tháng 3 năm 2023, Công an xã P nhận được đơn trình báo của anh Nguyễn Văn H3, sinh năm 1980, nơi cư trú: thôn N, xã P, huyện T, thành phố Hải Phòng về việc khoảng 05 giờ 00 phút ngày 05 tháng 3 năm 2023, gia đình anh H3 bị kẻ gian đột nhập vào nhà lấy trộm 01 chiếc điện thoại di động Samsung Galaxy A31 vỏ ốp màu hồng xám của vợ anh là chị Nguyễn Thị H2. Sau khi nhận được được đơn trình báo, Công an xã P đã báo cáo Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thuỷ Nguyên để tiến hành điều tra, xác minh và xác định Bùi Xuân H là người đã lén lút đột nhập vào nhà anh H3 để chiếm đoạt tài sản.

Tại Cơ quan điều tra, Bùi Xuân H khai nhận: Do không có tiền ăn tiêu nên H nảy sinh ý định đi chiếm đoạt tài sản. Thực hiện ý định trên, khoảng 05 giờ 00 phút ngày 05 tháng 3 năm 2023, H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu sơn đen biển số 15H1-061.32 đến khu vực thôn N, xã P, huyện T, Hải Phòng H phát hiện nhà chị Nguyễn Thị H2 mở cửa, xung quanh không có ai, H dựng xe ở nhà hoang đối diện bên đường, trèo qua cổng, đi vào phòng ngủ nhà chị H2, tại đây H thấy trên đầu giường nơi chị H2 đang ngủ để 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A31, H lấy chiếc điện thoại trên định bỏ đi thì thấy anh H3 đang ở ngoài phòng khách, H nấp vào phía sau cánh cửa phòng ngủ. Lúc này, chị H2 tỉnh dậy nhìn thấy H nên hô hoán. Do sợ hãi, H cầm chiếc điện thoại chạy ra cổng. Anh H3 và chị H2 đuổi theo H được khoảng 50m thì bắt giữ được H, nhưng sau đó lại để H chạy thoát. Trên đường bỏ chạy H vứt lại chiếc điện thoại vừa chiếm đoạt được, 01 áo khoác, 01 áo len đang mặc trên người và 01 chiếc xe máy biển số 15H1-061.32. Toàn bộ số tài sản này anh H3 đã giao nộp lại cho Cơ quan Công an để điều tra, giải quyết.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 21/KL-HĐĐGTS ngày 22 tháng 3 năm 2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Thủy Nguyên kết luận 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A31 vỏ màu xanh đã qua sử dụng, ốp lưng bằng nhựa cứng, tiền công làm lại sim là 3.570.000 đồng.

Bị hại là chị Nguyễn Thị H2 trình bày phù hợp với nội dung trên. Hiện chị H2 đã được Cơ quan Công an trả lại tài sản bị chiếm đoạt.

Tại phiên tòa, bị cáo Bùi Xuân H khai: Vào khoảng 05 giờ 00 phút ngày 05 tháng 3 năm 2023, bị cáo đã thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của chị Nguyễn Thị H2 như nội dung nêu trên.

Công bố lời khai của bị hại và người làm chứng khai giống như lời khai của bị cáo đã khai nhận tại phiên tòa.

Tại Cáo trạng số 106/CT-VKS ngày 12 tháng 7 năm 2023 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên truy tố bị cáo Bùi Xuân H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Sau phần xét hỏi công khai tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên phân tích hành vi phạm tội, đánh giá tính chất vụ án, nêu các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Về hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s, điểm h, khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Bùi Xuân H từ 18 đến 24 tháng tù về tội: "Trộm cắp tài sản". Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Bùi Xuân H. Về vật chứng: Một chiếc điện thoại di động màu đen nhãn hiệu Samsung Galaxy A31, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thủy Nguyên đã trả cho chủ sở hữu là chị Nguyễn Thị H2 nên không đề nghị giải quyết. Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu sơn đen mang BKS 15H1-061.32 H sử dụng đi trộm cắp tài sản, hiện chưa xác định được chủ sở hữu, nên Cơ quan điều tra đã tách ra làm rõ, xử lý sau. 01 áo khoác màu đen, 01 áo len dài tay màu đen của Bùi Xuân H không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo tại phiên tòa bị cáo không yêu cầu được nhận lại nên tịch thu tiêu hủy. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại chị Nguyễn Thị H2 đã nhận lại điện thoại nên không đề nghị giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại gì nên các hành vi, quyết định tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh: Lời khai của bị cáo Bùi Xuân H tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, phù hợp với lời khai của người làm chứng, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án có đủ căn cứ xác định: Khoảng 05 giờ 00 phút ngày 05 tháng 3 năm 2023, bị cáo Bùi Xuân H đã có hành vi lợi dụng sơ hở, lén lút chiếm đoạt tài sản gồm: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A31 của chị Nguyễn Thị H2 tại thôn N, xã P, huyện T, thành phố Hải Phòng, trị giá tài sản bị cáo chiếm đoạt của bị hại là 3.570.000 đồng. Bị cáo Bùi Xuân H là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Do vậy, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” vi phạm khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên truy tố và đề nghị áp dụng đối với bị cáo Bùi Xuân H theo tội danh và điều luật như trên là có cơ sở, đúng quy định của pháp luật.

Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân, gây mất trật tự trị an xã hội. Bị cáo đã hai lần thực hiện hành vi phạm tội và bị kết án, trong đó có một tiền án chưa được xóa án tích, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân mà vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, đối với hành vi phạm tội của bị cáo cần phải được xử phạt nghiêm khắc và buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tại trại giam mới có tác dụng giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Bùi Xuân H đã bị kết án chưa được xóa án tích nay lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên hành vi của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm, nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự..

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo Bùi Xuân H thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn, nên bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, điểm h khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo Bùi Xuân H là lao động tự do, không có thu nhập và không có tài sản riêng, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng: Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại tài sản là 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A31 cho chủ sở hữu hợp pháp nên Tòa không xét.

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu sơn đen biển số 15H1-061.32 bị cáo H sử dụng đi trộm cắp tài sản, hiện chưa xác định được chủ sở hữu, nên Cơ quan điều tra đã tách ra làm rõ, xử lý sau.

01 áo khoác màu đen, 01 áo len dài tay màu đen của Bùi Xuân H không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo, có giá trị không lớn, tại phiên tòa bị cáo không yêu cầu được nhận lại nên tịch thu tiêu hủy.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại chị Nguyễn Thị H2 đã nhận lại điện thoại và không yêu cầu gì khác, nên không còn gì phải xét.

Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo và bị hại có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn pháp luật quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s, điểm h khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Bùi Xuân H 18 (Mười tám) tháng tù về tội: "Trộm cắp tài sản".

Thời hạn tù của bị cáo Bùi Xuân H tính từ ngày 16 tháng 5 năm 2023. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Bùi Xuân H.

Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 áo khoác màu đen, 01 áo len dài tay màu đen.

(Đặc điểm vật chứng theo Biên Bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 07 tháng 7 năm 2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thủy Nguyên và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thủy Nguyên.

Về án phí: Căn cứ khoản 2, Điều 135; khoản 2, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 6; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội ban hành ngày 30 tháng 12 năm 2016 buộc bị cáo Bùi Xuân H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trong trường hợp bản án được thi hành án tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ