vanban.org

Bản án 105/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương Tuyên án 19/07/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị S phạm tội “Trộm cắp t i sản”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị S 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách l 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tính từ ng y Tòa tuyên án (ngày 19/7/2023). Giao bị cáo Nguyễn Thị S cho Ủy ban nh n d n xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị S - Bị truy tố tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị S phạm tội “Trộm cắp t i sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số Số: 01/2022/NQ-HĐTP Sửa đổi, bổ sung một số đi…; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 105/2023/HS-ST
Ngày: 19/7/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Nhật Thanh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Võ Văn Hiệp;

2. Nguyễn Thị Hồng Thanh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Kiều Diễm - Thư ký Tòa án nhân dân th nh phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành ph Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Trần Thanh Thảo - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nh n d n th nh phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 101/2023/TLST-HS ngày 14 tháng 6 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 107/2023/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 7 năm 2023 đối với bị cáo:

Nguyễn Thị S, sinh năm 1986, tại Quảng Ngãi; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Xóm 5, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi; nghề nghiệp: Không; trình độ h c vấn: 01/12; d n tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng R (đã chết) và bà Nguyễn Thị E (đã chết); có chồng l Ngô Văn P và 03 con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ng y 14/01/2023 đến ng y 15/02/2023 được thay thế biện pháp tạm giam sang bảo lĩnh; bị cáo tại ngoại; có mặt.

Bị hại: Chị Nguyễn Thị Huỳnh N, sinh năm 1996; địa chỉ: Ấp 5, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp; vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

Người làm chứng: Ông Nguyễn Tấn L; vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các t i liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

- Về h nh vi phạm tội của bị cáo:

Sáng ngày 14/01/2023, Nguyễn Thị S đi từ nhà ở xóm 5, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi đến thành phố T, tỉnh Bình Dương để tìm việc làm. Khoảng 20 giờ cùng ngày, S đi bộ trong Khu chợ đêm T để mua hàng hóa. Khi đến gần giao lộ đường N v đường X thuộc khu phố 7, phường P, thành phố T, S nhìn thấy chị Nguyễn Thị Huỳnh N đang đi bộ phía trước và trong túi áo khoác bên phải của chị N có 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax, màu xám nên nảy sinh ý định chiếm đoạt điện thoại di động của chị N. S đi đến gần chỗ chị N rồi lén lút dùng tay phải móc lấy điện thoại di động từ trong túi áo khoác của chị N và bỏ đi nhanh về phía trước. Khi đó, chị N phát hiện điện thoại di động bị mất trộm và thấy S cầm 01 điện thoại di động giống với điện thoại của chị N nên chị N truy hô và cùng m i người bắt giữ S giao Công an phường P để lập biên bản tiếp nhận người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang. Tang vật thu giữ l 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax, màu xám, 01 ốp lưng bằng nhựa trong suốt có viền màu xanh và 02 tờ tiền Việt Nam, mỗi tờ có mệnh giá 500.000 đồng (nằm trong ốp lưng). Cùng ng y 14/01/2023, Công an phường P đã chuyển hồ sơ vụ việc, vật chứng đã thu giữ cùng với Nguyễn Thị S cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thủ Dầu Một để giải quyết theo thẩm quyền.

Căn cứ Bản kết luận định giá t i sản số 11/KL-HĐĐGTS ng y 16/01/2023 của Hội đồng định giá thường xuyên t i sản trong tố tụng hình sự th nh phố Thủ Dầu Một, kết luận: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax, m u xám, trị giá 8.000.000 đồng v 01 ốp lưng bằng nhựa trong suốt có viền màu xanh trị giá 50.000 đồng. Như vậy, tổng trị giá t i sản v số tiền m Nguyễn Thị S đã chiếm đoạt của chị Nguyễn Thị Huỳnh N l 9.050.000 đồng.

Quá trình điều tra v tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận h nh vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Bị hại không có ý kiến gì về h nh vi phạm tội của bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố h nh vi của bị cáo S đủ yếu tố cấu th nh tội “Trộm cắp t i sản”.

- Về các vấn đề khác của vụ án:

Ng y 30/01/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an th nh phố Thủ Dầu Một đã trả lại 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax, m u xám (gắn ốp lưng bằng nhựa trong suốt có viền màu xanh) và 02 tờ tiền Việt Nam, mỗi tờ có mệnh giá 500.000 đồng cho chị Nguyễn Thị Huỳnh N theo Quyết định xử lý vật chứng số 46/QĐ-CSĐT-ĐTTH cùng ng y 30/01/2023. Chị N không có yêu cầu gì khác.

- Về trích dẫn cáo trạng của Viện Kiểm sát:

Cáo trạng số 100/CT-VKSTDM ngày 12/6/2023 của Viện Kiểm sát nh n d n th nh phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Nguyễn Thị S về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nh n d n th nh phố Thủ Dầu Một giữ nguyên quyết định truy tố v đề nghị Hội đồng xét xử:

Về mức hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Thị S mức hình phạt từ 06 tháng đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng.

Về trách nhiệm d n sự v biện pháp tư pháp: Không đề nghị giải quyết.

Quá trình điều tra v tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát nh n d n th nh phố Thủ Dầu Một.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo biết h nh vi sai trái của mình, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ v o các t i liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về h nh vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nh n d n th nh phố Thủ Dầu Một, Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra v tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về h nh vi, quyết định của cơ quan tiến h nh tố tụng, người tiến h nh tố tụng. Do đó, quyết định, h nh vi tố tụng của cơ quan tiến h nh tố tụng, người tiến h nh tố tụng thực hiện đều hợp pháp.

Quá trình điều tra v tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị S đã khai nhận: Khoảng 20 giờ ngày 14/01/2023, tại khu vực gần giao lộ (ngã tư) đường N và đường X thuộc khu phố 7, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương, Nguyễn Thị S đã lén lút chiếm đoạt 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax, m u xám, trị giá 8.000.000 đồng, gắn ốp lưng bằng nhựa trong suốt có viền màu xanh, trị giá 50.000 đồng và trong ốp lưng điện thoại có 02 tờ tiền Việt Nam, mỗi tờ có mệnh giá 500.000 đồng của bị hại Nguyễn Thị Huỳnh N. Tổng trị giá t i sản m S đã chiếm đoạt của bị hại N là 9.050.000 đồng. Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nh n d n th nh phố Thủ Dầu Một truy tố bị cáo S về tội “Trộm cắp t i sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo l nguy hiểm cho xã hội. Về nhận thức, bị cáo biết việc lén lút chiếm đoạt t i sản của người khác l vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Hậu quả l bị cáo đã chiếm đoạt t i sản của bị hại trị giá 9.050.000 đồng. H nh vi của bị cáo không những x m phạm trực tiếp đến quyền sở hữu t i sản hợp pháp của công d n được pháp luật bảo vệ m còn g y mất trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định xử bị cáo một mức án nghiêm, tương xứng với tính chất v mức độ phạm tội của bị cáo để răn đe, giáo dục bị cáo v phòng ngừa chung cho to n xã hội.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu v thuộc trường hợp ít nghiêm tr ng; th nh khẩn khai báo, ăn năn hối cải; t i sản đã được thu hồi v trả lại cho bị hại l các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Xét bị cáo có nh n th n tốt, chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ r ng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng nên việc không bắt bị cáo đi chấp h nh hình phạt tù không g y ảnh hưởng xấu đến cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm. Hội đồng xét xử s áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự v Nghị quyết số 02/2018/NQ–HĐTP ng y 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nh n d n tối cao Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo và Nghị quyết 01/2022/NQ–HĐTP ng y 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nh n d n tối cao sửa đổi, bổ sung Nghị quyết số 02/2018/NQ–HĐTP ng y 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nh n d n tối cao Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo, cho bị cáo hưởng án treo l đã đủ răn đe, giáo dục bị cáo v phòng ngừa chung cho to n xã hội.

Xét mức hình phạt m đại diện Viện Kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về trách nhiệm d n sự: Bị hại đã nhận lại t i sản v không có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

Về vật chứng của vụ án: Đã được xử lý xong.

Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các l trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ v o khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự;

Căn cứ v o Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 260, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ v o Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ng y 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nh n d n Tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo; Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ng y 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nh n d n Tối cao sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018 ng y 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nh n d n tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo;

Căn cứ v o Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ng y 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý v sử dụng án phí v lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị S phạm tội “Trộm cắp t i sản”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị S 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách l 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tính từ ng y Tòa tuyên án (ngày 19/7/2023).

Giao bị cáo Nguyễn Thị S cho Ủy ban nh n d n xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi h nh án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo Nguyễn Thị S cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp h nh hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo theo quy định tại khoản 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự.

2. Về trách nhiệm d n sự: Không đặt ra giải quyết.

3. Về vật chứng của vụ án: Đã giải quyết xong.

4. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ng y kể từ ng y Tòa tuyên án. Bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ng y kể từ ng y nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ