- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lường Văn Q phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Lu…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lường Văn Q phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 105/2023/HS-ST. Ngày: 10 - 8 - 2023. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V - TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Xuân Hiếu.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Quách Công Cầm
Ông Nguyễn Phương Thảo
- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Hằng Giang – Thư ký Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V - tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Bà Mùi Thị Quyên - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 108/2023/TLST- ST ngày 07 tháng 7 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 107/2023/QĐXXST- HS ngày 31 tháng 7 năm 2023, đối với bị cáo:
Lường Văn Q; tên gọi khác: Không, sinh năm 1993, sinh tại huyện V, tỉnh Sơn La. Nơi cư trú: Bản M, xã M, huyện V, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Lường Văn Ph (Đã chết) và bà Lường Thị Ch, sinh năm 1964; bị cáo có vợ là Lường Thị Ng, sinh năm 1992; bị cáo chưa có con; Tiền án: Không; Tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam kể từ ngày 02/4/2023 cho đến nay. Có mặt.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
+ Anh Nguyễn Công Tứ Ph, sinh năm; 1987; Trú tại: Tiểu khu 10, thị trấn Nông Trường M, huyện M, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.
+ Anh Phan Quốc D, sinh năm 1971; trú tại: Tiểu khu 4, thị trấn M, huyện M, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng ngày 30/3/2023 Lường Văn Q vào mạng xã hội Facebook thì có nick facebook tên “Phương Minh” kết bạn với Q. Q vào xem ảnh đại diện và thông tin cá nhân thì Phương Minh để ảnh đại diện là con gái, sinh năm: 1996, trú tại: Bản Ch, xã V, huyện V, tỉnh Sơn La. Qua nói chuyện Q được biết Phương Minh đang làm việc ở thành phố Hà Nội, đến ngày 01/4/2023 sẽ trở về nhà. Khoảng 14 giờ ngày 01/4/2023, Q xem Facebook thì thấy Phương Minh có đăng ảnh đang sử dụng ma túy. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày 01/4/2023, Q nhắn tin cho Phương Minh rủ Phương Minh đi chơi và sử dụng ma túy, Phương Minh đồng ý. Qua nói chuyện Phương Minh bảo Q xuống khu nhà Phương Minh mua ma túy cho tiện đường. Sau đó có một người đàn ông sử dụng số thuê bao 0912.295.283 gọi điện thoại cho Q giới thiệu tên là H anh họ của Phương Minh. Qua trao đổi Q và H thống nhất Q sẽ mua 10 viên hồng phiến với giá 40.000 đồng/ 01 viên và hẹn gặp nhau tại cổng Trung tâm đăng kiểm xe cơ giới huyện V để mua bán ma túy. Sau đó Q đi đến quán điện thoại của anh Phan Quốc D, sinh năm: 1971, trú tại: Tiểu khu 4, thị trấn M, huyện M, tỉnh Sơn La cầm cố chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy A20 của Q để lấy 800.000 đồng. Sau khi cầm cố điện thoại lấy tiền, Q một mình điều khiển xe máy BKS: 26B1 – 797.85 đi đến khu vực Trung tâm đăng kiểm xe cơ giới huyện V thì H đến. Sau đó Q và H đi vào khu vực cổng chào bản Ch, xã Vân H, huyện V khoảng 100 mét thì H đưa cho Q một vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu White Horse bên trong đựng 01 gói nilon màu xanh có chứa 10 viên hồng phiến. Q trả cho H 400.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, Q cầm vỏ bao thuốc lá đựng ma túy trong lòng bàn tay trái rồi điều khiển xe máy đi về. Đến 00 giờ 20 phút ngày 02/4/2023 khi Q vừa đi ra đến đường Quốc lộ 6 thuộc địa phận bản Ch, xã V, huyện V thì bị tổ công tác Công an huyện V kiểm tra, phát hiện, thu giữ: 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu White Horse bên trong đựng một gói nilon màu xanh có chứa 10 viên nén màu hồng, trên bề mặt mỗi viên đều có ký hiệu WY nghi là Methamphetamine; 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave RSX BKS: 26B1 – 797.85; Tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 400.000 đồng. Lường Văn Q khai 10 viên nén màu hồng tổ công tác thu giữ là ma túy loại Hồng phiến của Q, cất giấu để sử dụng. Căn cứ vào hành vi vi phạm của Lường Văn Q, Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ, niêm phong vật chứng, đồng thời dẫn giải Lường Văn Q về cơ quan CSĐT Công an huyện V để điều tra làm rõ.
Ngày 02/4/2023, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V đã phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân huyện V và Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La tiến hành cân tịnh xác định khối lượng 10 viên nén màu hồng nghi là Methamphetamine thu giữ của Lường Văn Q được tổng khối lượng là 0,78 gam. Lấy toàn bộ 0,78 gam làm mẫu trưng cầu giám định, mẫu có ký hiệu Q. Mẫu giám định ký hiệu Q được bàn giao cho Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La giám định chất ma túy, loại ma túy.
Tại Kết luận giám định số: 735 ngày 04/4/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: Mẫu gửi giám định ký hiệu Q là ma túy; Loại Methamphetamine; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,78 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,78 gam, loại Methamphetamine. Hoàn lại đối tượng giám định: Không. (BL: 18 -> 19)
Cáo trạng số: 80/CT-VKS ngày 07/7/2023 của Viện kiểm sát nhân huyện V, tỉnh Sơn La đã truy tố bị cáo Lường Văn Q về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa không phát sinh tình tiết mới ảnh hưởng đến nội dung vụ án, Kiểm sát viên giữ quyền công tố giữ nguyên quan điểm như bản cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử:
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, khoản 1 Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS xử phạt bị cáo Lường Văn Q từ 20 tháng tù đến 24 tháng tù về tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý.
- Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS; Điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 BLTTHS đề nghị:
- Tịch thu tiêu huỷ: 01 phong bì niêm phong bên trong đựng vỏ gói ban đầu, phong bì niêm phong ban đầu; 01 phong bì niêm phong bên trong đựng test thử ma túy đối với Lường Văn Q.
- Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy A20 bên trong lắp sim số 0888.075.193 và số 0372.966.446.
- Trả lại cho bị cáo Lường Văn Q số tiền 400.000 đồng.
- Ghi nhận việc cơ quan CSĐT Công an huyện V đã trao trả cho Nguyễn Công Tứ Phước quản lý, sử dụng 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave RSX BKS: 26B1 – 797.85.
- Về dân sự: Căn cứ Điều 589 Bộ luật dân sự. Buộc bị cáo Lường Văn Q phải trả cho anh Phan Quốc Dân số tiền 800.000 đồng.
- Về án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14. Đề nghị HĐXX miễn toàn bộ án phí cho bị cáo.
Ý kiến của bị cáo: Nhất trí với quan điểm truy tố của Kiểm sát viên, không có ý kiến tranh luận gì khác.
Bị cáo nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện V, Kiểm sát viên trong qua trình điều tra, truy tố, đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.
. Về chứng cứ xác định có tội: Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra và được chứng minh bằng các tài liệu chứng cứ sau: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Biên bản niêm phong đồ vật tài liệu bị tạm giữ, Kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, Lời khai của người chứng kiến, Biên bản ghi lời khai, Biên bản hỏi cung bị can; cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ; thể hiện: Ngày 02/4/2023, Lường Văn Q đã có hành vi cất giấu trái phép 0,78 gam Methamphetamine, mục đích để sử dụng thì bị tổ công tác Công an huyện V làm nhiệm vụ tại bản Ch, xã V, huyện V phát hiện, bắt quả tang. Trên cơ sở đó, có đủ căn cứ kết luận bị cáo Lường Văn Q phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.
- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là những tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
. Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, làm lây lan phát sinh các tệ nạn xã hội, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân, gây mất trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố ý phạm tội. Vì vậy, cần áp dụng mức án phù hợp tương sứng với hành vi phạm tội của bị cáo và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, đồng thời để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.
Bị cáo Lường Văn Q đang bị tạm giam, Hội đồng xét xử tiếp tục tạm giam bị cáo trong hạn 45 ngày kể từ ngày tuyên án.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là người nghiện ma túy bị cáo không có tài sản có giá trị, không có thu nhập, không đủ điều kiện và khả năng thi hành, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Vật chứng của vụ án: Đối với 01 phong bì niêm phong bên trong đựng vỏ gói ban đầu, phong bì niêm phong ban đầu; 01 phong bì niêm phong bên trong đựng test thử ma túy đối với Lường Văn Q là vật không còn giá trị sử dụng tuyên tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy A20 bên trong lắp sim số 0888.075.193 và số 0372.966.446 là tài sản của bị cáo dùng liên lạc mua ma túy tuyên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
- Đối với tiền 400.000 đồng của bị cáo không liên quan đến việc phạm tội tuyên trả lại cho bị cáo.
- Đối với 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave RSX BKS: 26B1 – 797.85 là tài sản của anh Nguyễn Công Tứ Ph, bị cáo sử dụng xe đi mua ma túy anh Phước không biết và không liên quan. Cơ quan CSĐT Công an huyện V đã trao trả cho Nguyễn Công Tứ Ph quản lý, sử dụng là có căn cứ đúng quy định.
- Buộc bị cáo phải trả cho anh phan Quốc D số tiền 800.000 đồng là tiền cầm cố chiếc điện thoại Samsung Galaxy A20.
Về nguồn gốc chất ma túy: Theo lời khai của Q mua của một người đàn ông tên Hùng không biết đị chỉ cụ thể nên không có căn cứ điều tra làm rõ.
Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn nên miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, khoản 1 Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
2. Tuyên bố bị cáo Lường Văn Q phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Xử phạt bị cáo Lường Văn Q 22 (Hai mươi hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 02/4/2023.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
3. Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS; Điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong bên trong đựng vỏ gói ban đầu, phong bì niêm phong ban đầu; 01 phong bì niêm phong bên trong đựng test thử ma túy đối với Lường Văn Q.
- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy A20 bên trong lắp sim số 0888.075.193 và số 0372.966.446.
- Trả lại cho bị cáo Lường Văn Q số tiền 400.000 đồng.
- Ghi nhận việc cơ quan CSĐT Công an huyện V đã trao trả cho Nguyễn Công Tứ Phước quản lý, sử dụng 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave RSX BKS: 26B1 – 797.85.
- Về dân sự: Áp dụng Điều 589 Bộ luật dân sự. Buộc bị cáo Lường Văn Q phải trả cho anh Phan Quốc Dân số tiền 800.000 đồng.
4. Về án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016 UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội. Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
- Miễn toàn bộ án phí cho bị cáo.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.
| Nơi nhận: -Toà án ND tỉnh; - VKSND huyện; - Công an; - Trại giam; - THA hình sự; - THA dân sự; - Bị cáo; - Người có QLNVLQ - Sở Tư pháp; - Lưu án văn; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Xuân Hiếu |