vanban.org

Bản án 105/2023/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Cà Mau Tuyên án 27/09/2023 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 27/09/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận một phần kháng cáo của bị hại Nguyễn Trường H, Nguyễn Trường G. Sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số: 16/2023/HS-ST ngày 21 tháng 6 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện U Minh về hình phạt và trách nhiệm dân sự.

Xử phạt bị cáo Thái Thái Ng 04 (bốn) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án. 2 Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Thái Thái Nguyễn cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, b…"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần kháng cáo của bị hại Nguyễn Trường H, Nguyễn Trường G. Sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số: 16/2023/HS-ST ngày 21 tháng 6 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện U Minh về hình phạt và trách nhiệm dân sự.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 134 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 105/2023/HS-PT
Ngày: 27 - 9 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Văn Út

Các Thẩm phán:

Ông Trịnh Xuân Miễn

Ông Nguyễn Trọng Quế

- Thư ký phiên tòa: Ông Hồ Văn Mil – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa:

Bà Phạm Trúc Mai – Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau, xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 85/2023/TLPT-HS ngày 27 tháng 7 năm 2023 đối với bị cáo Thái Thái Ng; do có kháng cáo của các bị hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 16/2023/HS-ST ngày 21 tháng 6 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện U Minh, tỉnh Cà Mau.

- Bị cáo không có kháng cáo:

Họ và tên: Thái Thái Ng, sinh năm 2000; Nơi sinh: huyện U Minh, tỉnh Cà Mau; Nơi cư trú: ấp 3, xã Khánh Hội, huyện U Minh, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Mua bán; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Thái Huỳnh Triệu và bà Nguyễn Thị Phụng; bị cáo có vợ và 01 người con; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo được tại ngoại (có mặt).

- Các bị hại có kháng cáo:

Anh Nguyễn Trường H, sinh năm 1993 (có mặt)

Địa chỉ cư trú: Ấp 3, xã Khánh Hội, huyện U Minh, tỉnh Cà Mau.

Anh Nguyễn Trường G, sinh năm 1990 (vắng mặt)

Địa chỉ cư trú: Ấp Minh Thượng B, xã Minh Thuận, huyện U Minh Thượng, tỉnh Kiên G.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng 22 giờ 30 phút, ngày 21/7/2022, Thái Thái Ng đang nhậu ở quán Hải Huynh Đệ cùng với anh Trần Thái Hải (chủ quán), Nguyễn Việt Trương, Đỗ Khánh Duy và Hoàng Hải Tiến. Trong lúc nhậu thì có anh Nguyễn Trường H đến quán hỏi mua đồ nhậu thì anh Hải trả lời là quán nghỉ bán, đồng thời mời anh H đến uống 01 ly bia thì giữa H và Ng có xảy ra cự cải mâu thuẫn với nhau, sau đó anh H ra về. Khi về nhà, anh H điện thoại cho Đỗ Khánh Duy hỏi lý do vì sao Ng chửi H, lúc này do Duy mở loa lớn nên Ng nghe được lời nói thách thức của H nên đã lấy cây kéo dùng để cắt thịt gà dài khoảng 20 cm, mủi nhọn tại bàn nhậu giấu ở thắt lưng, rồi một mình điều khiển xe đến nhà anh Nguyễn Trường H để thách thức đánh nhau.

Đến nơi, Ng đứng bên ngoài chửi, rủ anh H đánh nhau, lúc này anh H cũng mở cửa ra chửi lại với Ng. Do thấy Ng cầm kéo nên anh H cũng lấy 01 con dao định ra đánh nhau với Nguyễn thì được Đỗ Khánh Duy và Trần Thái Hải can ngăn. Sau đó, Ng chạy thẳng vào trong nhà anh H cầm kéo tay phải xông đến định đâm anh H thì có anh G đến can ngăn, trong quá trình can ngăn anh G bị Ng cầm kéo đâm 01 cái trúng vào cẳng tay phải và ngón II bàn tay trái, tiếp đến Ng cầm kéo xông đến đâm vào người anh H 2 cái, 01 cái trúng vào hông trái, 01 cái trúng vào khuỷu tay phải gây thương tích. Sau khi gây thương tích xong, Nguyễn cầm cây kéo chạy về quán của anh Hải bỏ cây kéo trên bàn nhậu rồi bỏ trốn, anh H và anh G được người nhà đưa đến bệnh viện điều trị. Đối với Ng sau khi gây án xong thì đến ngày 25/7/2022 đã đến Công an xã Khánh Hội đầu thú về hành vi của mình.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số: 201/TgT-22 ngày 08/11/2022 của Trung tâm pháp y tỉnh Cà Mau kết luận thương tích của Nguyễn Tường H như sau:

01 vết sẹo và vết phẫu thuật mặt trong từ 1/3 dưới cánh tay phải đến khuỷu tay phải, kích thước: 8.5 cm x 0.6 cm, tỷ lệ 3%, do vật sắc hoặc vật sắc nhọn gây ra; 01 vết sẹo và vết phẫu thuật từ đường nách trước ra đường nách sau khoảng liên sườn VIII, IX bên trái, kích thước 19.5 cm x 0.6 cm, tỷ lệ 3%,do vật sắc hoặc vật sắc nhọn gây ra; 01 vết phẫu thuật khoảng liên sườn III đường nách trước bên trái, kích thước 1.5 cm x 0.5 cm, tỷ lệ 1%; 01 vết dẫn lưu khoảng liên sườn XI đường nách giữa bên trái, kích thước 2.5 cm x 0,5 cm, tỷ lệ 1%; Tràn dịch (máu), tràn khí màng phổi trái đã dẫn lưu. Hiện tại xơ dày dính thùy dưới phổi trái (đáy phổi trái), tỷ lệ 12%,do vật sắc hoặc vật sắc nhọn gây ra; Thủng (rách) cơ hoành đã phẫu thuật khâu cơ hoành, tỷ lệ 23%,do vật sắc hoặc vật sắc nhọn gây ra; Rách thanh mạc dạ dày đã khâu thanh mạc, tỷ lệ 11%, do vật sắc hoặc vật sắc nhọn gây ra; Tổn thương thần kinh trụ và thần kinh bì cẳng tay trong bên trái đã khâu nối. Hiện tại không ghi nhận trên điện cơ, không xếp tỷ lệ %. Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định tính theo Thông tư 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y tế là 43%.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 200/TgT-22 ngày 26/10/2022 của Trung tâm pháp y tỉnh Cà Mau kết luận thương tích của Nguyễn Trường G như sau:

01 vết sẹo 1/3 trên mặt trước cẳng tay phải, kích thước: 1,5 cm x 0,4 cm, tỷ lệ 01%, do vật sắc hoặc vật sắc nhọn gây ra; 01 vết sẹo đốt gần ngón II bàn tay trái, kích thước: 1,5 cm x 0,1 cm, tỷ lệ 01%, do vật sắc hoặc vật sắc nhọn gây ra. Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định tính theo Thông tư 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y tế là 02%.

Về vật chứng, tài sản thu giữ: 01 thẻ nhớ Sandisk Ultra 32 GB chứa dữ liệu điện tử thu giữ trong camera tại nhà anh Nguyễn Trường H, được niêm phong kín, chuyển theo hồ sơ vụ án.

Đối với cây kéo là hung khí mà Ng dùng để gây thương tích cho các bị hại, Ng khai sau khi sự việc xảy ra đã bỏ lại tại quán Hải Huynh Đệ, Cơ quan điều tra đã tổ chức truy tìm nhưng không thu giữ được.

Quá trình điều tra anh H yêu cầu bị cáo bồi thường tổng số tiền là 126.981.000 đồng (bao gồm các khoản: chi phí điều trị 59.581.000 đồng; tiền ăn của người bệnh và người nuôi bệnh 10.000.000 đồng; tiền bao xe đi Cần Thơ 12.500.000 đồng; tiền công người nuôi bệnh 7.500.000 đồng; tiền mất thu nhập 45 ngày là 22.500.000 đồng, tiền tổn thất tin thần 14.900.000 đồng), đối trừ số tiền đã bồi thường là 35.000.000 đồng, nên anh H tiếp tục yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 91.981.000 đồng.

Đối với anh Nguyễn Trường G, quá trình điều tra yêu cầu bị cáo bồi thường tổng số tiền 24.500.000 đồng, (bao gồm các khoản: tiền thuốc 2.000.000 đồng; viện phí 6.000.000 đồng; tiền ăn 01 người 1.500.000 đồng; tiền bao xe đi Cà Mau 1.500.000 đồng; tiền công lao động 45 ngày x 300.000 = 13.500.000 đồng), bị can đã bồi thường 500.000 đồng, nên G tiếp tục yêu cầu bị cáo bồi thường thêm số tiền 24.000.000 đồng.

Tại phiên toà bị hại anh H yêu cầu bị cáo bồi thường tổng số tiền 108.681.000 đồng; Anh G yêu cầu bị cáo bồi thường tổng số tiền 5.020.000 đồng. Về trách nhiệm hình sự anh H, anh G đề nghị Hội đồng xét xử xét xử đúng người, đúng tội đối với bị cáo. Đồng thời, anh H, anh G thống nhất theo mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo.

Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận nội dung Cáo trạng nêu trên là đúng với hành vi của bị cáo và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt. Về trách nhiệm bồi thường thì bị cáo đồng ý bồi thường cho anh H số tiền 108.681.000 đồng, đồng ý bồi thường cho anh G số tiền 5.020.000 đồng, nhưng bị cáo yêu cầu đối trừ số tiền đã khắc phục cho anh H 02 lần với số tiền 65.000.000 đồng, đối trừ số tiền đã khắc phục cho anh G 500.000 đồng.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 16/2023/HS-ST ngày 21 tháng 6 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện U Minh quyết định:

Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 590 Bộ luật dân sự; điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Tuyên bố bị cáo Thái Thái Ng phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

2. Về trách nhiệm hình sự: Xử phạt Thái Thái Ng 03 (ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.

3. Về trách nhiệm bồi thường dân sự:

Buộc bị cáo Thái Thái Ng tiếp tục bồi thường cho bị hại anh Nguyễn Trường H số tiền 43.681.000 đồng. Anh Nguyễn Trường H được nhận số tiền 30.000.000 đồng, theo biên lai thu tiền số 0002315, ngày 08/6/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện U Minh, tỉnh Cà Mau khi Bản án có hiệu lực pháp luật.

Buộc bị cáo Thái Thái Ng tiếp tục bồi thường cho bị hại anh Nguyễn Trường G số tiền 4.502.000 đồng

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về quyền, nghĩa vụ thi hành án; án phí và quyền kháng cáo.

Ngày 30/6/2023, bị hại Nguyễn Trường H có đơn kháng cáo về hình phạt đề nghị tăng nặng; trách nhiệm dân sự không chấp nhận số tiền bồi thường 108.681.000 đồng.

Ngày 30/6/2023, bị hại Nguyễn Trường G, có đơn kháng cáo về hình phạt đề nghị tăng nặng; trách nhiệm dân sự không chấp nhận số tiền bồi thường 4.502.000 đồng.

Tại phiên tòa bị cáo:

- Bị hại Nguyễn Trường H yêu cầu bị cáo bồi thường thêm 10.000.000 đồng. Đối với yêu cầu kháng cáo về đề nghị tăng án đối với bị cáo xin giữ nguyên. Vấn đề các vết thương của bị hại bị hại thống nhất không yêu cầu giám định bổ sung gì thêm.

- Bị cáo thống nhất bồi thường thêm cho bị hại Nguyễn Trường H 10.000.000 đồng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau phát biểu quan điểm đề nghị: Căn cứ điểm b khoản 1 điều 358 Bộ luật Tố tụng hình sự; Hủy Bản án hình sự sơ thẩm số: 16/2023/HSST ngày của Tòa án nhân dân huyện U Minh, tỉnh Cà Mau.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tội danh: Vào khoảng 22 giờ 30 ngày 21/7/2022 tại nhà anh Nguyễn Trường H ấp 3, xã Khánh Hội, huyện U Minh, tỉnh Cà Mau, do có cự cãi và mâu thuẫn từ trước nên Thái Thái Ng đã dùng kéo sắt, nhọn đâm 02 nhát vào người anh Nguyễn Trường H gây thương tích với tỷ lệ thương tật 43%, anh Nguyễn Trường G vào can ngăn thì bị Thái Thái Ng dùng kéo gây thương tích với tỷ lệ thương tật 2%. Do đó, Tòa án nhân dân huyện U Minh đã xét xử bị cáo Thái Thái Ng về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm c khoản 3 Điều 134 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ.

Xét kháng cáo của bị hại Nguyễn Trường H, Nguyễn Trường G đều đề nghị tăng nặng trách nhiệm hình sự; về trách nhiệm dân sự, bị hại G không chấp nhận số tiền bồi thường 4.502.000 đồng; bị hại H chấp nhận nhận thêm 10.000.000 đồng bồi thường của bị cáo.

Về trách nhiệm hình sự: Mặc dù bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ nhưng hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vụ việc mâu thuẫn nhỏ nhưng bị cáo đã tỏ ra thái độ hung hăn xem thường pháp luật, trong một lúc bị cáo đã dùng kéo là hung khí nguy hiểm tấn công, xâm phạm đến sức khỏe của nhiều người khác, làm mất trật tự an toàn xã hội; bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Lẽ ra, Bản án sơ thẩm cần có một mức án nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, nhưng khi lượng hình Bản án sơ thẩm đã quyết định dưới khung (khung liên kề) và tuyên xử bị cáo 03 năm tù (trong khi khung hình phạt tại khoản 3 Điều 134 của Bộ luật Hình sự là từ 5 đến 10 năm tù), điều này chưa đủ răn đe và phòng ngừa chung cho toàn xã hội. Do đó, xét cần tăng hình phạt bị cáo, chấp nhận kháng cáo của các bị hại là phù hợp.

Đối với đề nghị hủy án của Đại diện Viện kiểm sát với lý do vết thương cẳng tay trong bên trái đã khâu nối, kết luận giám định xác định không ghi nhận trên điện cơ, không xếp tỷ lệ nhưng chưa được làm rõ; ngoài ra bệnh án có nêu bị hại H bị viêm phổi, nhưng không làm rõ việc viêm phổi có do thương tích bị cáo gây ra hay không. Xét, đối với các thương tích bị cáo gây ra cho bị hại đều đã qua giám định; đối với vết thương cẳng tay trong bên trái đã khâu nối, tại thời điểm giám định không ghi nhận trên điện cơ, nên không xếp tỷ lệ. Lẽ ra, vấn đề này cơ quan điều tra cần có văn bản hỏi lại cơ quan chuyên môn để làm rõ vết thương không xếp tỷ lệ, cần thiết cho giám định bổ sung. Đối với bị cáo, bị hại, suốt quá trình giải quyết vụ án, phía bị hại, bị cáo đều đồng ý với kết quả giám định. Tại phiên tòa phúc thẩm phía bị bại cũng khẳng định không yêu cầu giám định gì thêm về các vết thương nêu trên, do hiện nay các vết thương đã lành. Ngoài ra, Đại diện Viện kiểm sát cũng cho rằng án sơ thẩm chưa làm rõ thời gian bị cáo sống tại thành phố Hồ Chí Minh có tiền án, tiền sự gì không. Tuy nhiên, do thời gian bị cáo sống tại thành phố Hồ Chí Minh bị cáo không có khai báo tạm vắng, tạm trú đầy đủ, nên cơ quan điều tra không có cơ sở điều tra khi bị cáo sống tại thành phố Hồ Chí Minh. Xét, án sơ thẩm có sai sót nêu trên, nhưng không nhất thiết phải hủy án để điều, xét xử lại.

Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo bồi thường thêm cho bị hại H 10.000.000 đồng. Đối với bị hại G yêu cầu 24.500.000 đồng, nhưng tại phiên tòa sơ thẩm, bị hại G và bị cáo đã tự nguyện thống nhất nhận 4.502.000 đồng, xét mức bồi thường trên cho bị hại G không thấp hơn quy định của pháp luật hiện hành, và chứng từ hợp lệ của bị hại đã cung cấp, do đó không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị hại G tăng thêm về các khoản trách nhiệm dân sự.

Từ phân tích trên, cần sửa một phần Bản án sơ thẩm về hình phạt và trách nhiệm dân sự, ghi nhận bị cáo bồi thường thêm cho bị hại H 10.000.000 đồng.

Các phần khác của án sơ thẩm, không bị kháng cáo kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.

Về án phí: Các bị hại nêu trên thuộc trường hợp được miễn án phí (do yêu cầu về bồi thường sức khỏe bị xâm phạm) theo quy định tại Điều 12, 14, 22 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự; Điều 590 Bộ luật dân sự; Điều 12, 14, 22, khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận một phần kháng cáo của bị hại Nguyễn Trường H, Nguyễn Trường G. Sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số: 16/2023/HS-ST ngày 21 tháng 6 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện U Minh về hình phạt và trách nhiệm dân sự.

1. Xử phạt bị cáo Thái Thái Ng 04 (bốn) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.

2 Về trách nhiệm bồi thường dân sự:

- Buộc bị cáo Thái Thái Ng tiếp tục bồi thường cho anh Nguyễn Trường H số tiền 53.681.000 đồng. Anh Nguyễn Trường H được nhận số tiền 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng), theo biên lai thu tiền số 0002315, ngày 08/6/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện U Minh, tỉnh Cà Mau.

Buộc bị cáo Thái Thái Ng tiếp tục bồi thường cho anh Nguyễn Trường G số tiền 4.502.000 đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, nếu chậm thi hành án thì hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

3. Về án phí phúc thẩm: Anh Nguyễn Trường H đã dự nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số: 0011305 ngày 03-7-2023 tại Chi cục thi hành án huyện U Minh được hoàn lại. Anh Nguyễn Trường G đã dự nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số: 0011304 ngày 03-7-2023 tại Chi cục thi hành án huyện U Minh được hoàn lại.

4. Các Quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ