- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn L phạm tội cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đ…"
- Tòa quyết gì? 1 Căn cứ điểm d, đ khoản 2 Điều 134; điểm s, q khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 52 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 105/2023/HS-PT Ngày: 20/7/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Hải Vinh.
Các thẩm phán: Ông Hà Văn Nâu
Ông Nguyễn Trung Thông
- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Thu Trang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Bà Phan Thị Diễm Hạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 20/72023 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 167/TLPT-HS ngày 26 tháng 5 năm 2023 đối với bị cáo Nguyễn Văn L, do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn L và bị hại Nguyễn Văn C đối với bản án hình sự sơ thẩm số 59/2023/HSST ngày 19/4/2023 của Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
- Bị cáo có kháng cáo:
Nguyễn Văn L, sinh năm 1964; Tên gọi khác: Nguyễn Trường G; Nơi đăng ký HKTT: đường A, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang; Chỗ ở hiện nay: đường A, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; văn hóa 10/10; con ông Nguyễn Trường C, sinh năm 1924 (đã chết) và bà Đoàn Thị R, sinh năm 1926 (đã chết); gia đình có 10 anh chị em, bị cáo là thứ 8; vợ là chị Lưu Thị Kim B, sinh năm 1969 (đã ly hôn) và có 03 con, lớn sinh năm 1989, nhỏ sinh năm 1995.
Tiền án: Bản án hình sự phúc thẩm số 134 ngày 08/11/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xử phạt 09 tháng tù về tội “Hủy hoại tài sản”; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 11/3/2018; tài sản bị hủy hoại trị giá 2.050.000 đồng (Bản án áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm); L chưa chấp hành 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm, chưa được xóa án tích.
Tiền sự: Không
Nhân thân:
- Bản án hình sự phúc thẩm số 23 ngày 05/3/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xử phạt 08 tháng 01 ngày tù về tội “Hủy hoại tài sản”; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 04/7/2017 (bằng thời hạn tạm giam); tài sản bị hủy hoại trị giá 10.545.000 đồng; đã chấp hành xong 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm ngày 15/6/2018.
- Bản án hình sự sơ thẩm số 109 ngày 19/7/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”; thời hạn tù tính từ ngày 11/12/2018; tài sản hư hỏng trị giá 308.000 đồng; đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 11/3/2020, chấp hành xong 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm ngày 22/10/2019.
- Ngày 04/10/2018 bị Công an thành phố B xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 29/10/2022, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Giang.
(Có mặt tại phiên tòa)
* Người bảo chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Văn L1 – Luật sư Văn phòng luật sư B, Đoàn luật sư tỉnh Bắc Giang. (Có mặt tại phiên tòa).
* Bị hại: Anh Nguyễn Văn C, sinh năm 1974; (Có mặt tại phiên tòa).
Địa chỉ: đường Thân Nhân T, phường M, thành phố B, tỉnh Bắc Giang
Ngoài ra trong vụ án còn có người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng không liên quan đến kháng cáo, không kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Buổi chiều ngày 26/10/2022, Nguyễn Văn L, sinh năm 1964, trú tại đường A, phường T, thành phố B điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Nouvo đến cửa hàng kinh doanh sửa chữa, mua bán xe máy cũ của anh Nguyễn Văn C, sinh năm 1974 ở đường T, phường M, thành phố B đặt vấn đề cầm cố chiếc xe mô tô và 02 chiếc điện thoại di động của L để lấy tiền chi tiêu. Do anh C không kinh doanh dịch vụ cầm đồ nên đã hướng dẫn L đến cơ sở cầm đồ của anh Ngô Văn M ở đường M, phường M, thành phố B để cầm cố tài sản. L đồng ý và rời khỏi cửa hàng của anh C. Khoảng 15 phút sau do không tìm thấy cửa hàng cầm đồ của anh M nên L quay lại nhà anh C tỏ thái độ bực tức và có những lời nói xúc phạm. L đề nghị anh C phải cầm cố tài sản để cho L vay 4.500.000 đồng nhưng anh C không đồng ý. Hai bên xảy ra mâu thuẫn cãi nhau. L đi vào cửa quán dùng chân đạp vào chiếc xe Honda Wave ZX biển số 98L8-6408 làm xe bị đổ xuống nền nhà. L tiếp tục đạp vào chiếc xe Honda Cúp biển số 98AA-010.93 nhưng xe không bị đổ. Sau đó, L nhặt 01 chiếc tay công bằng kim loại ở gần đó, tay phải cầm tay công đập vỡ mặt nạ chắn gió xe mô tô nhãn hiệu Honda SH 125i, biển số 98B3-508.09. Thấy vậy, anh C chạy đến đẩy L ra không cho phá hoại tài sản. L đe dọa sẽ tiếp tục quay lại đập phá và đốt quán. Anh C do sợ Lượt đập phá tài sản nên đã lấy xe máy đưa L đến quán của anh M để giúp cầm cố tài sản nhưng do anh M không có nhà nên L không cầm cố được tài sản còn anh C ra về.
Buổi sáng ngày 27/10/2022, L đến chợ T mua 01 chiếc búa sắt. Đến khoảng 12 giờ 30 phút cùng ngày, L điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Nouvo, biển số 98B3-872.43 đi đến quán của anh C. Lúc này, anh C đang sửa chữa xe ở trước cửa nhà. L dựng xe, cầm chiếc búa đi về phía anh C. Thấy vậy, anh C đứng dậy cầm 01 bộ dàn để chân trước xe máy và 01 tay công dùng để vặn ốc giơ lên phòng thủ. L dùng búa đập vào đuôi xe Honda Dream biển số 98B2-526.98 mà anh C đang sửa chữa làm rách phần vải bọc yên. Anh C dùng tay công vụt về phía L nhưng không trúng. L xông vào giằng co, xô đẩy với anh C và dùng búa sắt đập nhiều nhát trúng vào người và tay anh C. Sau đó, Lượt đẩy anh C ngã ra nền đất rồi quay lại dùng búa đập vào xe Honda Dream biển số 98B2-526.98 làm hỏng đồng hồ công tơ mét. L tiếp tục dùng búa đập vào Honda Wave ZX biển số 98L8-6408 làm vỡ thủng nhựa nắp trước tay lái, vỡ rạn ốp nhựa mặt đồng hồ, vỡ rạn ốp nhựa đèn pha và vỡ mặt nạ trước. Sau đó, L dùng búa đập vào đầu xe Honda Cup biển số 98AA-010 làm cong vênh, bẹp lõm khung kim loại gắn hệ thống đèn pha rồi tiếp tục đập vào Honda SH 125i, biển số 98B3-508.09 làm hỏng đèn pha, mặt ốp và bàn thờ xe. Anh C đứng dậy gằng co với L ngăn cản không cho đập phá tài sản. Chị Lê Hán A, sinh năm 1985 là vợ anh C từ trong nhà chạy ra hô hoán và xô đẩy thì L chạy ra xe rồi điều khiển xe rời đi. Sau đó, anh C có đơn trình báo.
Ngày 26+27/10/2022, Cơ quan CSĐT Công an thành phố Bắc Giang khám nghiệm hiện trường đã thu giữ 01 chiếc búa có chuôi bằng gỗ dài 33,5 cm, đầu búa bằng kim loại sơn màu đỏ, kích thước (3,5x3,5,10) cm mà công cụ mà L dùng đập phá xe mô tô và gây thương tích cho anh C. Ngoài ra còn thu giữ 01 tay công kim loại; cụm để chân và chân chống nghiêng xe máy.
Cơ quan điều tra đã yêu cầu định giá những tài sản do L làm hư hỏng. Kết luận định giá tài sản số 189/KL-HĐĐG ngày 29/10/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận:
1- Các bộ phận cần thay mới và tiền công thay thế các bộ phận bị hư hỏng gồm: Đồng hồ công tơ mét và 01 tấm vải bọc yên của chiếc xe Honda Dream đời 2013, biển số 98B2-526.98 có trị giá tại thời điểm ngày 27/10/2022 là 930.000 đồng.
2- Các bộ phận cần thay mới và tiền công thay thế các bộ phận bị hư hỏng gồm: 01 đèn pha, 01 mặt bàn thờ, 01 mặt đồng hồ công tơ mét, 01 mặt nạ của chiếc xe Honda Wave ZX đời 2003, biển số 98L8-6408 có trị giá tại thời điểm ngày 27/10/2022 là 740.000 đồng.
3- Các bộ phận cần thay mới và tiền công thay thế các bộ phận bị hư hỏng gồm: 01 khung kim loại gắn hệ thống đèn pha của chiếc xe Honda Cup, biển số 98AA-010.93 có trị giá tại thời điểm ngày 27/10/2022 là 2.200.000 đồng.
4- Bộ phận cần thay mới và tiền công thay thế của chiếc xe Honda SH 125i đời 2017, biển số 98B3-508.09
- Các bộ phận cần thay mới và tiền công thay thế gồm 01 đèn pha, 01 mặt ốp bàn thờ, 01 bàn thờ của chiếc xe Honda SH 125i đời 2017, biển số 98B3-508.09 có trị giá tại thời điểm ngày 27/10/2022 là 3.200.000 đồng
- Bộ phận cần thay mới và tiền công thay 01 mặt nạ có trị giá tại thời điểm ngày 26/10/2022 là 280.000 đồng
* Về thương tích của anh Nguyễn Văn C
Anh C được đưa đến Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Giang khám và chụp X quang. Do bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Giang có đông bệnh nhân nên anh C xin không nằm viện mà mua thuốc theo đơn và điều trị tại nhà.
Kết quả chụp X-Quang hồi 13 giờ 37 phút ngày 27/10/2022 tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Giang: Gãy vỡ lồi cầu ngoài xương cánh tay trái và vỡ đài quay trái.
Hồi 17 giờ ngày 27/10/2022, Cơ quan điều tra tiến hành kiểm tra lập biên bản ghi nhận cơ thể anh C có các thương tích:
+ 01 vết bầm tím sau đầu kích thước (4x3)cm
+ 01 vết bầm hõm nách trái kích thước (3x2)cm
+ 01 vết bầm sườn bụng trái kích thước (3x2)cm
+ 01 vết thương chợt da khuỷu tay trái kích thước (0,7x0,2)cm
+ 01 vết thương rách da gót bàn chân trái kích thước (2,5x1,5)cm.
Kết luận giám định pháp y về thương tích số 1041/22/TgT ngày 01/11/2022 của Trung tâm pháp y tỉnh Bắc Giang kết luận:
1. Dấu hiệu chính qua giám định:
- Thương tích chạm thương vùng đầu không còn dấu vết: 0%.
- Thương tích vết biến đổi sắc tố da hõm nách trái: 0,5%.
- Thương tích chạm thương vùng sườn bụng trái không còn dấu vết: 0%.
- Thương tích vết chợt da khuỷu tay trái + Chụp cộng hưởng từ khớp khuỷu trái: Hình ảnh đụng dập, phù tủy xương kèm các đường vỡ xương lồi cầu trong xương cánh tay trái, không di lệch: 22%.
- Thương tích vết thương rách da kích thước nhỏ gót bàn chân trái: 01%.
Tổng tỷ lệ thương tích theo phương pháp cộng của Thông tư số 22/2019/TT-BYT: 22% + 1% + 0,5% + 0% + 0% = 23%.
2. Kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 23% (Hai ba phần trăm).
3. Kết luận khác:
- Cơ chế hình thành thương tích:
+ Các thương tích: Chạm thương vùng đầu không còn dấu vết, vết biến đổi sắc tố da hõm nách trái, chạm thương vùng sườn bụng trái không còn dấu vết, vết chợt da khuỷu tay trái do vật tày gây nên.
+ Thương tích vết thương rách da gót bàn chân trái không xác định được cơ chế gây thương tích.
Cơ quan điều tra đã trích xuất 03 đoạn video thu giữ tại camera nhà anh Nguyễn Văn C và trưng cầu giám định. Kết luận giám định số 154/KL-KTHS ngày 25/01/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang kết luận:
1. Không phát hiện dấu hiệu cắt ghép nội dung hình ảnh trong 03 file được lưu trữ trong 01 đĩa DVD-R gửi giám định.
2. Trích xuất 26 hình ảnh thể hiện diễn biến sự việc trong các đoạn video gửi giám định
Cơ quan điều tra đã cho anh C và chị A nhận dạng ảnh Nguyễn Văn L. Kết quả anh C và chị A đều nhận đúng ảnh và xác định L có hành vi dùng búa đập phá tài sản và gây thương tích cho anh C
Đối với vật chứng đã thu giữ gồm: 01 chiếc búa sắt; 01 tay công bằng kim loại; 01 chân chống xe mô tô; 01 xe mô tô Novo biển số 98B3-872.43; 01 điện thoại di động iphone 6 được nhập kho vật chứng để xử lý theo quy định.
Về trách nhiệm dân sự: anh C yêu cầu L phải bồi thường trị giá tài sản hư hỏng là 7.350.000 đồng và bồi thường chi phí điều trị do thiệt hại về sức khỏe là 2.180.000 đồng.
2. Hành vi trốn khỏi nơi giam
Ngày 29/10/2022, Cơ quan CSĐT Công an thành phố B ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự số 224, Quyết định khởi tố bị can số 356 và Lệnh bắt bị can để tạm giam số 22 đối với Nguyễn Văn L về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo Điều 178 Bộ luật hình sự và được Viện KSND thành phố B quyết định phê chuẩn.
Ngày 02/11/2022, Cơ quan điều tra ra Quyết định trưng cầu giám định về tình trạng tâm thần của bị can L đồng thời ra Lệnh trích xuất và áp giải L đến Trung tâm pháp y tâm thần miền núi phía Bắc có địa chỉ tại phường A, thị xã P, tỉnh Phú Thọ để giám định tâm thần nội trú. Lãnh đạo Công an thành phố B đã phân công cán bộ Công an thành phố B có nhiệm vụ quản lý, giám sát bị can L trong thời gian giám định.
Buổi tối ngày 16/11/2022, Nguyễn Văn L được bố trí tại phòng theo dõi giám định số 2, tầng 4 Khoa giám định của Trung tâm pháp y tâm thần khu vực miền núi phía Bắc. Ông Nguyễn Quang T, cấp bậc Trung úy là cán bộ Công an thành phố Bắc Giang cùng với các ông Lê Quang T, Nguyễn Huy G là Chiến sỹ nghĩa vụ Công an thành phố B được phân công làm nhiệm vụ bảo vệ, trông giữ. Khoảng 03 giờ ngày 17/11/2022 lợi dụng lúc mọi người đang ngủ, L dùng hai tay nhấc giường di chuyển đến gần vị trí ông Lê Quang T nằm, lấy chìa khóa số 8 để ở gần vị trí ông T ngủ rồi tự mở khóa số 8 ở tay mình ra. Sau đó, L kê lại giường về vị trí ban đầu rồi đi bộ ra hành lang, đi thang máy xuống tầng 1 rồi ra ngoài đón xe khách bỏ trốn về thành phố Hà Nội. L đi đến nhà bà bà Lưu Thị H, sinh năm 1967, trú tại đường T, phường P, quận B, thành phố Hà Nội là chị ruột vợ của L xin ở nhờ, xin tiền. Bà H không biết L bị khởi tố và bỏ trốn nên đã cho L 2.500.000 đồng để chi tiêu và cho mượn 01 xe máy để sử dụng đi lại. L sử dụng số tiền này mua 01 điện thoại di động iphone 6 màu vàng ở một cửa hàng bán điện thoại di động nhưng không nhớ địa chỉ cụ thể. Ngày 18/11/2022, Công an thành phố B đã bắt được L khi đang trốn tại thành phố Hà Nội. Quá trình bắt giữ đã thu giữ của L chiếc điện thoại di động iphone 6 nêu trên.
Cơ quan CSĐT Công an thị xã P đã tiến hành khám nghiệm hiện trường. Kết quả xác định vị trí Nguyễn Văn L bỏ trốn là tại phòng theo dõi giám định số 2 thuộc khoa giám định của Trung tâm pháp y tâm thần miền núi phía Bắc có địa chỉ tại phường A, thị xã P, tỉnh P.
Quá trình xác minh điều tra, Cơ quan CSĐT Công an thị xã P đã thu giữ 03 file video trích xuất từ camera an ninh của Trung tâm pháp y tâm thần miền núi phía Bắc có hình ảnh liên quan đến việc Nguyễn Văn L bỏ trốn vào ngày 17/11/2022. Cơ quan CSĐT Công an thành phố B đã trưng cầu giám định 03 file video nêu trên.
Kết luận giám định số 307/KL-KTHS ngày 25/02/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang kết luận:
1. Không xác định được nội dung hình ảnh trong file video có tên “dM46DNbFXLeWfdo30+vojRAVCC gửi giám định có bị cắt ghép, chỉnh sửa hay không do hình ảnh được ghi lại nội dung từ màn hình của thiết bị.
2. Không phát hiện dấu hiệu cắt ghép nội dung hình ảnh trong file cần giám định được lưu trữ trong 01 đĩa DVD-R nhãn hiệu Maxell.
Kết luận giám định pháp y tâm thần treo trưng cầu số 170/KLGĐ ngày 02/12/2022 của Trung tâm pháp y tâm thần khu vực miền núi phía Bắc kết luận:
1- Nguyễn Văn L, sinh năm 1964, đường A, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang bị bệnh rối loạn cảm xúc lưỡng cực hiện tại giai đoạn hưng cảm nhẹ (Theo phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 năm 1992 về các rối loạn tâm thần và hành vi – F31.0).
2- Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội vào ngày 27/10/2022 Nguyễn Văn L bị bệnh Rối loạn cảm xúc lưỡng cực hiện tại giai đoạn hưng cảm nhẹ, bệnh ở giai đoạn ổn định, đủ khả năng nhận thức và đủ khả năng điều khiển hành vi.
3- Hiện tại Nguyễn Văn L bị bệnh Rối loạn cảm xúc lưỡng cực hiện tại giai đoạn hưng cảm nhẹ, bệnh ở giai đoạn ổn định, đủ khả năng nhận thức và đủ khả năng điều khiển hành vi .
Đối với Nguyễn Quang T, Nguyễn Huy G và Lê Quang T là cán bộ Công an thành phố B trong quá trình trông giữ Nguyễn Văn L tại Trung tâm pháp y tâm thần khu vực miền núi phía Bắc do thiếu trách nhiệm đã để L bỏ trốn. Cơ quan CSĐT Công an thành phố B đã đề nghị Giám đốc Công an tỉnh Bắc Giang xử lý theo quy định.
Đối với bà Lưu Thị H cho Nguyễn Văn L mượn xe máy và cho tiền nhưng không biết L bị khởi tố và có hành vi trốn khỏi nơi giam nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý.
Đối với vật chứng đã thu giữ được nhập kho vật chứng theo quy định.
* Tại Bản cáo trạng số 61/CT-VKS ngày 13 tháng 3 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân B, tỉnh Bắc Giang đã truy tố bị cáo về các tội: “Cố ý gây thương tích” theo các điểm d, đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự; “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 178 Bộ luật hình sự; “Trốn khỏi nơi giam” theo khoản 1 Điều 386 Bộ luật hình sự.
* Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi như cáo trạng đã nêu.
Với nội dung trên bản án hình sự sơ thẩm số 59/2023/HSST ngày 19/4/2023 của Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Bắc Giang đã xét xử và quyết định:
Căn cứ điểm d, đ khoản 2 Điều 134; điểm g khoản 2 Điều 178; khoản 1 Điều 386; điểm a khoản 1 Điều 47; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; điểm a khoản 1 Điều 55; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Căn cứ điểm a, c khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 292; Điều 293; Điều 331; Điều 333 ; khoản 1 Điều 337 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 579, Điều 580, Điều 584, Điều 586, Điều 587 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự; điểm a, c khoản 1 Điều 23 và Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Về tội danh và hình phạt : Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L 02 năm 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, 02 năm 06 tháng tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” và 01 năm tù về tội “Trốn khỏi nơi giam”. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo chịu hình phạt chung của 03 tội là 06 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 29/10/2022.
Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về trách nhiệm dân sự, về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi án sơ thẩm xét xử xong, ngày 24/4/2023 bị cáo Nguyễn Văn L có đơn kháng cáo với nội dung: xin giảm nhẹ hình phạt.
Ngày 17/5/2023, bị hại Nguyễn Văn C có đơn kháng cáo với nội dung đề nghị tăng hình phạt đối với bị cáo.
Tại phiên toà phúc thẩm: Bị cáo thay đổi nội dung kháng cáo, xin HĐXX phúc thẩm xem xét xử đúng người, đúng tội. Tội hủy hoại bị cáo chỉ đập vỡ mặt nạ 01 xe SH, trị giá thiệt hại 280.000 đồng, không đủ truy tố, đề nghị cho xem hình ảnh trích xuất từ Camera. Về tội Cố ý gây thương tích, bị cáo không đánh anh C, đề nghị HĐXX xử đúng người, đúng tội.
Bị hại anh Nguyễn Văn C giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo đã được ghi trong camera an ninh. Đề nghị HĐXX xem xét tăng hình phạt 02 tội “Hủy hoại tài sản” và “Cố ý gây thương tích” đối với bị cáo.
Đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang thực hành quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích các tình tiết của vụ án, tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đưa ra đề nghị xem xét các vấn đề kháng cáo mà bị cáo nêu ra, do bị cáo bị bệnh Rối loạn cảm xúc lưỡng cực hiện tại giai đoạn hưng cảm nhẹ nên hạn chế khả năng nhận thức, điều khiển hành vi, đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm q khoản 1 Điều 51 BLHS, tuy nhiên do bị cáo không nhận tội, trong thời gian bị tạm giam phạm tội mới, tại phiên tòa bị cáo có thái độ coi thường pháp luật nên đề nghị HĐXX áp dụng điểm c khoản 1 Điều 355 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn L, không chấp nhận kháng cáo đề nghị tăng hình phạt của bị hại Nguyễn Văn C, sửa bản án sơ thẩm về phần án phí. Miễn án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm và án phí hình sự phúc thẩm cho bị cáo.
- Bị cáo L đề nghị HĐXX xem xét xử đúng người, đúng tội cho bị cáo.
- Luật sư L1 tranh luận: Đề nghị xem xét bị cáo là người mắc bệnh. Về tội Cố ý gây thương tích, đề nghị HĐXX và Viện kiểm sát xem xét cho bị cáo.
- Anh C không tranh luận.
- Đại diện Viện kiểm sát trình bày ý kiến đối đáp: Việc bị cáo gây thương tích cho anh C đã được trích xuất hình ảnh từ camera an ninh, giấy chứng nhận thương tích tại Bệnh viện và kết quả giám định có đủ căn cứ xác định bị cáo phạm tội cố ý gây thương tích.
Bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị HĐXX xem xét xử đúng người, đúng tội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn L và bị hại Nguyễn Văn C nộp theo đúng các quy định của pháp luật nên được coi là đơn kháng cáo hợp pháp cần được chấp nhận để xem xét.
Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Nguyễn Văn L đã bị Tòa án kết án về tội “Hủy hoại tài sản”, chưa được xóa án tích. Ngày 26/10/2022, L đến cửa hàng kinh doanh sửa chữa, mua bán xe máy của anh Nguyễn Văn C ở đường T, phường M, thành phố B nhờ cầm cố chiếc xe mô tô và 02 chiếc điện thoại di động nhưng anh C không đồng ý. L sử dụng 01 chiếc tay công bằng kim loại đập vỡ mặt nạ chắn gió chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda SH 125i, biển số 98B3-508.09 tại cửa hàng của anh C gây thiệt hại tài sản trị giá 280.000 đồng.
Ngày 27/10/2022, Nguyễn Văn L cầm 01 chiếc búa sắt tiếp tục đến cửa hàng của anh C. L dùng búa đập vào các xe Honda Dream biển số 98B2-526.98; Honda Wave ZX biển số 98L8-6408; Honda Cup biển số 98AA-010; Honda SH 125i, biển số 98B3-508.09 là tài sản mà anh C đang sửa chữa. Hậu quả làm hư hỏng một số bộ phận của các xe mô nêu trên. Tổng giá trị tài sản bị hư hỏng là 7.070.000 đồng. trong lúc L đập phá tài sản thì L cầm chiếc búa sắt đánh nhiều cái vào người và tay trái anh Nguyễn Văn C. Hậu quả làm anh C bị thương tích 23%. Hành vi của L là cố ý gây thương tích thuộc trường hợp dùng hung khí nguy hiểm và có tính chất côn đồ.
Ngày 02/11/2022, Cơ quan CSĐT Công an thành phố B trích xuất và áp giải Nguyễn Văn L (đang bị tạm giam) đến Trung tâm pháp y tâm thần miền núi phía Bắc có địa chỉ tại phường A, thị xã P, tỉnh Phú Thọ để giám định tâm thần nội trú. Khoảng 03 giờ ngày 17/11/2022 lợi dụng sơ hở, L đã bỏ trốn. Ngày 18/11/2022, Công an thành phố B đã bắt được L khi đang trốn tại thành phố Hà Nội.
Các hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành các tội: “Cố ý gây thương tích” theo các điểm d, đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự; “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 178 Bộ luật hình sự và “Trốn khỏi nơi giam” theo khoản 1 Điều 386 Bộ luật hình sự. Án sơ thẩm xét xử đối với bị cáo là có căn cứ pháp luật, không oan.
Xét kháng cáo của bị hại Nguyễn Văn C:
Hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, do ý thức coi thường pháp luật, xem nhẹ tài sản của người khác nên trong 02 ngày liên tiếp bị cáo đã 02 lần đến dùng búa sắt đập phá tài sản của anh C; khi anh C ngăn cản bị cáo đã cầm chiếc búa sắt đánh nhiều cái vào người và tay trái anh Nguyễn Văn C. Hành vi này đã trực tiếp xâm phạm đến quyền bảo vệ sức khỏe của công dân được pháp luật bảo vệ. Đối với hành vi bỏ trốn khi bị áp giải đến Trung tâm pháp y tâm thần miền núi phía Bắc để giám định tâm thần nội trú của bị cáo đã xâm phạm đến hoạt động tư pháp, cụ thể là xâm phạm đến hoạt động bình thường của cơ quan tiến hành tố tụng hình sự và trung tâm giám định tâm thần.
Bản án sơ thẩm sau khi xem xét đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm hành vi của bị cáo, đánh giá toàn bộ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo đã xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L 02 năm 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, 02 năm 06 tháng tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” và 01 năm tù về tội “Trốn khỏi nơi giam” là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Do đó, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo đề nghị tăng hình phạt đối với bị cáo của bị hại Nguyễn Văn C
Xét kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn L:
Bị cáo Nguyễn Văn L cho rằng không gây thương tích cho anh C, xong qua trích xuất camera an ninh, các biên bản hỏi cung bị cáo, lời khai người bị hại, người làm chứng và giấy chứng nhận thương tích do bệnh viện cung cấp, kết luận giám định có đủ căn cứ kết luận bị cáo phạm tội Cố ý gây thương tích theo điểm d, đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự.
Về tội “Hủy hoại tài sản”: mặc dù thiệt hại tài sản trị giá 280.000 đồng nhưng bị cáo phạm tội lần này thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm. Do vậy, việc án sơ thẩm xét xử bị cáo phạm tội “Hủy hoại tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 178 là đúng quy định của pháp luật, không oan.
Xét thấy: Bị cáo L bị bệnh Rối loạn cảm xúc lưỡng cực tại giai đoạn hưng cảm nhẹ nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm q khoản 1 Điều 51 BLHS. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới chưa được Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng cho bị cáo. Tuy nhiên, bị cáo có nhân thân xấu, nhiều lần phạm tội, lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm, phạm nhiều tội trong thời gian bị tạm giam, bị cáo không ăn năn hối cải mà tiếp tục phạm tội khác. Tại phiên tòa xét xử phúc thẩm, bị cáo có không nhận tội, có thái độ và lời nói xúc phạm người tiến hành tố tụng, thể hiện sự ngang ngược, coi thường pháp luật nên Hội đồng xét xử thấy không có căn cứ để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, cần giữ nguyên bản án sơ thẩm đối với bị cáo Nguyễn Văn L như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tại phiên tòa là phù hợp với quy định của pháp luật.
Về án phí hình sự:
Bị cáo bị bệnh bị bệnh Rối loạn cảm xúc lưỡng cực tại giai đoạn hưng cảm nhẹ hạn chế khả năng nhận thức, điều khiển hành vi, án sơ thẩm buộc bị cáo chịu án phí là thiếu sót cần rút kinh nghiệm. Cấp phúc thẩm áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội
Miễn án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm, án phí hình sự phúc thẩm cho bị cáo Nguyễn Văn L.
Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 357Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn L, không chấp nhận kháng cáo của bị hại Nguyễn Văn L. Sửa bản án sơ thẩm về phần án phí.
1.1 Căn cứ điểm d, đ khoản 2 Điều 134; điểm s, q khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L 02 năm 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”.
1.2 Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 178; điểm s, q khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L 02 năm 06 tháng tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
Căn cứ khoản 1 Điều 386; điểm s,q khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L 01 năm tù về tội “Trốn khỏi nơi giam”.
Căn cứ Điều 55 Bộ luật hình sự tổng hợp hình phạt chung, buộc bị cáo Nguyễn Văn L phải chấp hành hình phạt chung cho cả ba tội là 03 tội là 06 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 29/10/2022.
2. Về án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội
Miễn án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm, án phí hình sự phúc thẩm cho bị cáo Nguyễn Văn L
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Bắc Giang; - Sở tư pháp tỉnh Bắc Giang; - Cổng thông tin điện tử Tòa án; - CA, VKS, TA TP. B; - Chi cục THADS TP. B; - Bị cáo; - Lưu HS, HCTP. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ ` Nguyễn Hải Vinh |