vanban.org

Bản án 105/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Thạch Thị D đối với bị đơn anh Sơn Sỉ L.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Thạch Thị D được ly hôn với anh Sơn Sỉ L. Về con chung: Giao các cháu Sơn Hoàng Q, giới tính: Nam, sinh ngày: 01/8/2013 và Sơn Thị Yến N, giới tính: Nữ, sinh ngày 30/9/2015 cho chị D trực tiếp nuôi dưỡng đến khi các cháu Q, N đủ 18 tuổi. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ND Thach Thị D; BD Sơn Sỹ L"
  • Tòa quyết gì? 1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Thạch Thị D đối với bị đơn anh Sơn Sỉ L.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
THỊ XÃ VĨNH CHÂU
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 105/2023/HNGĐ-ST.
Ngày: 06/9/2023
V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con

NHÂN DNH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU, TỈNH SÓC TRĂNG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Chiêu Hùng.

- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Ông Trịnh Văn Lộc

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hồng N - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Âu Hoàng Mến - Kiểm sát viên.

Ngày 06/9/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm, công khai vụ án dân sự thụ lý số: 48/2023/TLST-HNGĐ, ngày 14 tháng 3 năm 2023, về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 75/2023/QĐXXST-HNGĐ, ngày 01/8/2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Thạch Thị D, sinh năm 1995; địa chỉ: ấp H, xã H, thị xã VC, tỉnh Sóc Trăng; (có đơn xin xét xử vắng mặt);

- Bị đơn: Anh Sơn Sỉ L, sinh năm 1990; địa chỉ: ấp A, xã T, thị xã VC, tỉnh Sóc Trăng; (vắng mặt);

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 23/9/2022 (BL01), biên bản ghi lời khai ngày 10/7/2023 (BL23) cũng như quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Thạch Thị D trình bày: Nguyên vào năm 2012 chị Thạch Thị D và anh Sơn Sỉ L có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán, đến năm 2018 có đi đăng ký kết hôn tại UBND xã T và được cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 06/06/2018.

Sau đám cưới vợ chồng cùng nhau đi làm công tại thành phố Hồ Chí Minh. Thời gian đầu vợ chồng sống chung hạnh phúc, nhưng dần dần phát hiện cả hai không đồng quan điểm sống, không hợp tính tình, nên xảy ra mâu thuẫn cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng không còn thương yêu nhau nữa.

Nay chị D yêu cầu Tòa án giải quyết: Về quan hệ hôn nhân: Chị Thạch Thị D yêu cầu được ly hôn với anh Sơn Sỉ L. Về con chung: Tuỳ theo nguyện vọng của các cháu Sơn Hoàng Q, giới tính: Nam, sinh ngày: 01/8/2013 và Sơn Thị Yến N, giới tính: Nữ, sinh ngày 30/9/2015 muốn sống với cha hay với mẹ thì người đó trực tiếp nuôi dưỡng, nếu các cháu muốn sống theo cha thì chị D không thực hiện cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung: Không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh L nhưng anh L không có văn bản gửi đến Tòa án để trình bày ý kiến về yêu cầu khởi kiện của chị D đồng thời anh L cũng không đến tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng như tham gia phiên tòa.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã chấp hành đúng pháp luật tố tụng dân sự. Từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn chấp hành đúng pháp luật, quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự, bị đơn chưa chấp hành đúng quy định của pháp luật.

Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị Tòa án giải quyết chấp nhận cho chị Thạch Thị D được ly hôn với anh Sơn Sỉ L; Về con chung giao các cháu Sơn Hoàng Q, giới tính: Nam, sinh ngày: 01/8/2013 và Sơn Thị Yến N, giới tính: Nữ, sinh ngày 30/9/2015 cho chị D tiếp tục nuôi dưỡng đến khi cháu Q và N đủ 18 tuổi, ghi nhận sự tự nguyện của chị D không yêu cầu anh L phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung: Chị D khẳng định không có, nên không đặt ra xem xét. Về án phí xử lý theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Tòa án đã tống đạt hợp lệ Giấy triệu tập xét xử đến lần thứ hai cho anh L, nhưng anh L vẫn vắng mặt không có lý do, chị D có đơn xin xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, xét xử vắng mặt chị D và anh L theo quy định của pháp luật.

Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Theo đơn khởi kiện lập ngày 23/9/2022 chị Thạch Thị D yêu cầu được ly hôn với anh Sơn Sỉ L có nơi cư trú tại ấp A, xã T, thị xã VC, tỉnh Sóc Trăng. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử xác định việc Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu, thụ lý, giải quyết theo trình tự sơ thẩm là đúng quy định của pháp luật về thẩm quyền giải quyết vụ án.

Về quan hệ hôn nhân: Xét yêu cầu khởi kiện của chị Thạch Thị D, nhận thấy chị D và anh L tự nguyện sống chung với nhau từ năm 2012, đến năm 2018 có đi đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, thị xã VC, tỉnh Sóc Trăng và được cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 06/6/2018. Quan hệ hôn nhân của chị D và anh L không vi phạm các điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Nhưng sau một thời gian chung sống thì vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân chính là do tính tình vợ chồng không còn hòa hợp với nhau thường hay xảy ra mâu thuẫn cãi vã nhau. Chị D nhận thấy cuộc sống chung không còn hạnh phúc, không còn tình cảm vợ chồng với anh L nên có nguyện vọng ly hôn. Chị D và anh L đã không còn chung sống với nhau khoảng từ đầu năm 2022 cho đến nay, từ đó cho thấy tình trạng hôn nhân giữa các bên trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị D được ly hôn với anh L.

Về con chung: Thời gian chung sống với nhau chị D và anh L có 02 con chung tên Sơn Hoàng Q, giới tính: Nam, sinh ngày: 01/8/2013 và Sơn Thị Yến N, giới tính: Nữ, sinh ngày 30/9/2015 hiện đang do chị D trực tiếp nuôi dưỡng, tùy nguyện vọng của các cháu Q, N có nguyện vọng sống với cha hay với mẹ thì người đó nuôi dưỡng. Theo nguyện vọng của các cháu Q, N nếu cha mẹ không còn chung sống với nhau các cháu Q, N có nguyện vọng sống chung với mẹ. Để đảm bảo cuộc sống của các cháu Q, N không bị xáo trộn, để các cháu phát triển bình thường về tâm, sinh lý nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình, giao cháu Sơn Hoàng Q, giới tính: Nam, sinh ngày: 01/8/2013 và Sơn Thị Yến N, giới tính: Nữ, sinh ngày 30/9/2015 cho chị D trực tiếp nuôi dưỡng đến khi cháu Q, N đủ 18 tuổi. Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của chị D không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Chị D khẳng định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về nợ chung: Chị D khẳng định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Từ những phân tích nêu trên, xét yêu cầu của nguyên đơn, đề nghị của Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Án phí sơ thẩm: Chị D phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 3 Điều 36; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm a, b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 238; khoản 1 Điều 273; khoản 1 Điều 280 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83, Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Thạch Thị D đối với bị đơn anh Sơn Sỉ L.

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Thạch Thị D được ly hôn với anh Sơn Sỉ L.

- Về con chung: Giao các cháu Sơn Hoàng Q, giới tính: Nam, sinh ngày: 01/8/2013 và Sơn Thị Yến N, giới tính: Nữ, sinh ngày 30/9/2015 cho chị D trực tiếp nuôi dưỡng đến khi các cháu Q, N đủ 18 tuổi.

Anh Sơn Sỉ L không phải cấp dưỡng nuôi con, anh L có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Anh L không được lạm dụng việc thăm nom con chung để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các cháu Q, N của chị D thì chị D có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom.

- Về tài sản chung: Chị D khẳng định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

- Về nợ chung: Chị D khẳng định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

2/ Về án phí sơ thẩm: Chị Thạch Thị D phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị D đã nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), theo Biên lai số 0007820, ngày 09/3/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng. Như vậy, chị D đã thực hiện xong. Anh Sơn Sỉ L không phải chịu án phí sơ thẩm.

3/ Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ, để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Cỡ chữ