vanban.org

Bản án 105/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Trần Thanh Ph và Huỳnh Chí Khánh.

Về nuôi con chung: Giao hai người con chung Huỳnh Chí K, sinh ngày 07/02/2021 và Huỳnh Chí Đ, sinh ngày 17/12/2022 cho chị Trần Thanh Ph trực tiếp nuôi dưỡng, không đặt ra trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con. Anh Huỳnh Chí Kh có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Về án phí: Chị Ph phả…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Trần Thanh Ph và Huỳnh Chí Khánh.
  • Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 143 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CÀ MAU
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 105/2023/HNGĐ-ST
Ngày 22 - 5 - 2023
“V/v tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Thái Hoàng Đắc

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Trần Thị Mỹ Hương

Ông Nguyễn Hoàng Kha

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thúy Kiều – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau.

Ngày 22 tháng 5 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 135/2023/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 3 năm 2023 về tranh chấp ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 105/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 4 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Trần Thanh Ph, sinh năm: 2000; Cư trú tại: số 76/13 đường P, khóm X, phường Y, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau (có mặt).

- Bị đơn: Anh Huỳnh Chí Kh, sinh năm: 1992; Cư trú tại: số 354C Quang Trung, khóm C, phường D, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Chị Trần Thanh Ph trình bày tại đơn khởi kiện và được bổ sung tại phiên tòa như sau:

Về hôn nhân: Năm 2020, chị Ph và anh Kh tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường 4, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau. Quá trình chung sống vợ chồng mẫu thuẫn do anh Kh không quan tâm, chăm sóc vợ con, thường xuyên sử dụng ma túy; hay chửi xúc phạm và đánh đập chị. Chị Ph xác định không còn tình cảm và yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh Kh.

Về nuôi con chung: Chị Ph và anh Kh có 02 người con chung là Huỳnh Chí K, sinh ngày 07/02/2021 và Huỳnh Chí Đ, sinh ngày 17/12/2022, đang sống với chị Ph. Khi ly hôn, chị Ph yêu cầu nuôi hai con, không yêu cầu anh Kh cấp dưỡng cho con.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị Ph xác định không có.

Trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho bị đơn anh Huỳnh Chí Kh đầy đủ, đúng theo quy định pháp luật nhưng bị đơn vẫn vắng mặt và không có văn bản thể hiện ý kiến, cũng không có đơn phản tố gửi cho Tòa án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn anh Huỳnh Chí Kh đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần để tham gia phiên tòa xét xử nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

[2] Về hôn nhân: Năm 2020 chị Trần Thanh Ph và anh Huỳnh Chí Kh tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên hôn nhân giữa anh chị được pháp luật công nhận là hợp pháp và được bảo vệ.

[3] Xét nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng theo chị Ph trình bày: Do anh Kh không quan tâm, chăm sóc vợ con, thường xuyên sử dụng ma túy; hay chửi xúc phạm và đánh đập chị. Chị Ph xác định không còn tình cảm và yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh Kh. Về phía anh Kh đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt và không có văn bản thể hiện ý kiến của mình gửi cho Tòa án. Đồng thời anh Kh thường xuyên vắng mặt tại nhà nên Tòa án không làm việc được. Xét thấy tình trạng hôn nhân giữa chị Ph và anh Kh không thể hàn gắn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào Điều 51, 56 của Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Ph được ly hôn với anh Kh.

[3] Về con chung: Chị Ph và anh Kh có 02 người con chung là Huỳnh Chí K, sinh ngày 07/02/2021 và Huỳnh Chí Đ, sinh ngày 17/12/2022, đang sống với chị Ph. Khi ly hôn, chị Ph yêu cầu nuôi hai con. Xét thấy hai cháu Kg và Đ chưa đủ 36 tháng tuổi và anh Kh không có ý kiến về việc chị Ph yêu cầu nuôi hai con. Căn cứ vào khoản 3 Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử quyết định giao hai cháu K và Đ cho chị Ph trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Kh có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

[4] Về cấp dưỡng nuôi con, theo quy định tại khoản 2 Điều 82 của Luật hôn nhân và gia đình thì cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con. Tuy nhiên, chị Ph không yêu cầu anh Kh cấp dưỡng nuôi hai con nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[5] Về tài sản và nợ chung: Chị Ph xác định không có.

[6] Về án phí: Chị Ph phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 143, 147, 227 của Bộ luật tố tụng dân sự; Các Điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Trần Thanh Ph và Huỳnh Chí Khánh.

2. Về nuôi con chung: Giao hai người con chung Huỳnh Chí K, sinh ngày 07/02/2021 và Huỳnh Chí Đ, sinh ngày 17/12/2022 cho chị Trần Thanh Ph trực tiếp nuôi dưỡng, không đặt ra trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con. Anh Huỳnh Chí Kh có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về án phí: Chị Ph phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Ngày 09/3/2023, chị Ph đã nộp tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai thu số 0002984 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau được đối trừ.

Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

“Trường hợp bản án được thi hành theo quy đinh tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (được sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Cỡ chữ