vanban.org

Bản án 105/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

* Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp hôn nhân gia đình"
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 150 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN CÁI RĂNG
THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 105/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 12/12/2023
V/v tranh chấp ly hôn và nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CÁI RĂNG, THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Thiềm Quốc Khanh

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Lê Thị Tuyết Mai

2. Ông Nguyễn Thanh Tùng

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Phi Liễu - Thư ký Tòa án nhân dân quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ.

Trong ngày 12 tháng 12 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 256/2023/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 10 năm 2023 về tranh chấp ly hôn và nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 467/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 11 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Võ Thị Kim D, sinh năm: 1986; Địa chỉ: Khu vực Y, phường T, quận C, thành phố Cần Thơ. (Có mặt).

- Bị đơn: Ông Lý Hữu N, sinh năm: 1978; Địa chỉ: Khu vực Y, phường T, quận C, thành phố Cần Thơ. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Tại đơn khởi kiện đề ngày 19/8/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Võ Thị Kim D trình bày:

Sau một thời gian tìm hiểu, giữa bà và ông Lý Hữu N tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân phường Thường Thạnh, quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 276/2011 ngày 12/10/2004. Thời gian đầu sau khi kết hôn, vợ chồng sống với nhau hạnh phúc. Tuy nhiên, sau đó thì vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn. Hiện nay, bà bà và ông N cũng đã sống ly thân với nhau. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên bà D đề nghị Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Lý Hữu N.

Về con chung: Trong thời gian chung sống, giữa bà D và ông N có với nhau 03 người con chung tên Lý Kim H (nữ), sinh ngày 24/3/2005 đã trưởng thành; Lý Trọng Nh, sinh ngày 04/01/2008 và Lý Trọng Ng, sinh ngày 04/01/2008. Sau khi ly hôn, bà D xin được tiếp tục nuôi cháu Nh và cháu Ng đến tuổi trưởng thành, không yêu cầu ông N cấp dưỡng.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Bị đơn Lý Hữu N trình bày:

Giữa ông và bà Võ Thị Kim D có chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Sau khi kết hôn thì giữa ông và bà D sống với nhau hạnh phúc. Tuy nhiên, sau đó thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nay bà D khởi kiện yêu cầu ly hôn thì ông thống nhất. Về con chung: Trong thời gian chung sống, giữa ông và bà D có với nhau 03 người con chung tên Lý Kim H (nữ), sinh ngày 24/3/2005 đã trưởng thành; Lý Trọng Nh, sinh ngày 04/01/2008 và Lý Trọng Ng, sinh ngày 04/01/2008. Sau khi ly hôn, ông thống giao cháu Nh và cháu Ng cho bà D trực tiếp nuôi dưỡng đến tuối trưởng thành, ông không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Đồng thời, bị đơn Lý Hữu N cũng có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt.

Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Giữa bà Võ Thị Kim D và ông Lý Hữu N là công dân Việt Nam, có chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn, được Ủy ban nhân dân phường Thường Thạnh, quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ cấp Giấy chứng nhận kết hôn nên được xem là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Nay bà D yêu cầu Tòa án cho bà được ly hôn với ông Lý Hữu N, cư trú tại Khu vực Y, phường Thường T, quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Cái Răng được quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bị đơn Lý Hữu N có văn bản trình bày lời khai, đồng thời đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Về hôn nhân: Hội đồng xét xử xét thấy, hôn nhân phải được xây dựng dựa trên nguyên tắc tự nguyện xuất phát từ tình cảm giữa hai vợ chồng và phải có trách nhiệm chăm sóc, thương yêu, tôn trọng, giúp đỡ nhau để xây dựng gia đình hạnh phúc. Tuy nhiên, giữa bà D và ông N không xây dựng hạnh phúc gia đình dựa trên nguyên tắc đó mà lại nhiều lần xảy ra mâu thuẫn, không tìm được tiếng nói chung. Hiện tại giữa bà D và ông N cũng đã sống ly thân với nhau. Ông N cũng được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần để đến Tòa án hòa giải nhưng từ chối và đề nghị giải quyết vắng mặt. Điều đó cho thấy, ông N không còn thiết tha với cuộc hôn nhân này nữa và thống nhất ly hôn theo yêu cầu của bà D. Cả hai người không còn quan tâm, thương yêu, chăm sóc lẫn nhau nên đã vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử thấy rằng yêu cầu ly hôn của bà là có cơ sở chấp nhận.

Về con chung: Giữa bà D và ông N có với nhau 03 người con chung tên Lý Kim H (nữ), sinh ngày 24/3/2005 đã trưởng thành và có khả năng tự lao động nên không đặt ra xem xét; Lý Trọng Nh, sinh ngày 04/01/2008 và Lý Trọng Ng, sinh ngày 04/01/2008, sau khi ly hôn, bà D xin được tiếp tục nuôi cháu Nh và cháu Ng đến tuối trưởng thành, không yêu cầu ông N cấp dưỡng. Hội đồng xét xử xét thấy, hiện tại cháu Nh và cháu Ng đang sống ổn định với bà D, được bà D nuôi dưỡng, chăm sóc tốt. Do đó, việc giao cháu Nh và cháu Ng cho bà D tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp. Do bà D không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không đặt ra xem xét giải quyết

Về tài sản chung và nợ chung: Thừa nhận không có nên không đặt ra xem xét giải quyết. Nếu sau này có phát sinh tranh chấp, sẽ giải quyết thành vụ kiện khác.

Về án phí: Nguyên đơn Võ Thị Kim D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: - Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 150, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Khoản 1 Điều 56, Điều 81 và Điều 82 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

- Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

* Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Võ Thị Kim D được ly hôn với ông Lý Hữu N.

2. Về con chung: Giao cháu Lý Trọng Nh, sinh ngày 04/01/2008 và Lý Trọng Ng, sinh ngày 04/01/2008 cho bà Võ Thị Kim D trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành. Ông Lý Hữu N không phải cấp dưỡng nuôi con.

Dành quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung cho ông N, không ai được cản trở ông N thực hiện quyền này.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Thừa nhận không có nên không đặt ra xem xét giải quyết. Nếu sau này có phát sinh tranh chấp, sẽ giải quyết thành vụ kiện khác.

4. Về án phí: Bà Võ Thị Kim D phải chịu 300.000 đồng án phí án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn. Chuyển 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí mà bà D đã nộp theo biên lai thu số 0000262 ngày 13/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Cái Răng thành tiền án phí của bà D. Như vậy, bà D đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

5. Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ