vanban.org

Bản án 105/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Tuyên bố không công nhận chị Nguyễn Thị T và anh Phan Văn T là vợ chồng.

Về con chung: Có hai cháu tên Phan Văn S, sinh ngày 20/7/1991; Phan Văn T, sinh ngày 18/7/1996 hiện đã trưởng thành và lao động được nên không đặt ra giải quyết. Về tài sản chung và nợ chung: Đều không có nên không đặt ra xem xét. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "xin ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Tuyên bố không công nhận chị Nguyễn Thị T và anh Phan Văn T là vợ chồng.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 15 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 105/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 12/5/2023
V/v tranh chấp “Xin ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- chủ tọa phiên tòa: Bà NGUYỄN HOÀNG XUÂN LAM

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông TỐNG VĂN TƯ

2. Ông NGUYỄN VĂN HÒA

-Thư ký phiên tòa: Ông NGUYỄN TRƯỜNG AN - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên toà: Bà MAI THỊ ÚT - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 5 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cái Bè xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 217/2023/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 4 năm 2023 về việc tranh chấp “Xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 43/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 4 năm 2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị NGUYỄN THỊ T, sinh năm 1969

Địa chỉ: ấp L, xã M, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

2. Bị đơn: Anh PHAN VĂN T, sinh năm 1971

Địa chỉ: ấp L, xã M, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

(Chị T và anh T đều có đơn xin vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và tờ tự khai cùng ngày 22/3/2023, nguyên đơn chị Nguyễn Thị T trình bày:

Chị và anh T xác lập quan hệ vợ chồng vào năm 1990, không có đăng ký kết hôn. Vợ chồng sống hạnh phúc thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm và anh chị đã ly thân từ năm 2015 cho đến nay. Nay chị yêu cầu được ly hôn anh T.

Con chung có hai cháu tên Phan Văn S, sinh ngày 20/7/1991; Phan Văn T, sinh ngày 18/7/1996 hiện đã trưởng thành và lao động được nên không yêu cầu giải quyết.

Tài sản chung và nợ chung không có.

Theo biên bản lấy lời khai của đương sự ngày 17/4/2023, bị đơn anh Phan Văn T trình bày:

Anh thống nhất với lời trình bày của chị T về quan hệ hôn nhân, con chung, tài sản chung và nợ chung. Anh đồng ý ly hôn với chị T, con chung đã trưởng thành và lao động được nên không yêu cầu giải quyết. Tài sản chung và nợ chung không có.

Tại phiên tòa, nguyên đơn và bị đơn đều có đơn xin giải quyết vụ án vắng mặt.

Ý kiến của kiểm sát viên tại phiên tòa: Về tố tụng: Việc tuân thủ pháp luật của Thẩm phán, của Hội đồng xét xử và của các đương sự chấp hành đúng qui định của pháp luật tố tụng dân sự. Hiện tại thì chưa phát hiện sai sót gì để kiến nghị khắc phục. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị T và anh T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

[1] Chị Nguyễn Thị T và anh Phan Văn T đều có đơn xin giải quyết vụ án vắng mặt. Căn cứ theo quy định tại Điều 228, 238 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt họ.

Về nội dung:

[2] Về quan hệ hôn nhân: Xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng của chị T và anh T đã thật sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Bởi lẽ, sau khi cưới anh chị chỉ sống hạnh phúc được khoảng thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn và đã chính thức ly thân từ năm 2015 cho đến nay nên chị T có yêu cầu được ly hôn anh T. Đồng thời, bản thân anh T cũng đồng ý ly hôn với chị T. Hơn nữa, anh chị có đủ điều kiện đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nhưng cả hai xác lập quan hệ vợ chồng từ năm 1990 đến nay mà cũng không thực hiện việc đăng ký kết hôn. Cho nên, theo quy định tại khoản 1 Điều 14 và khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình thì chị T và anh T không được công nhận là vợ chồng.

[3] Về con chung: Con chung có hai cháu tên Phan Văn S, sinh ngày 20/7/1991; Phan Văn T, sinh ngày 18/7/1996 hiện đã trưởng thành và lao động được nên không yêu cầu giải quyết.

[4] Về tài sản chung và nợ chung: Chị T và anh T đều xác định không có nên không đặt ra xem xét là có căn cứ.

[5] Về án phí: Chị T phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.

[6] Xét ý kiến phát biểu của vị đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 14, 15, 16, 51, 56, 57, 58, 59 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Xử:

Về quan hệ hôn nhân: Tuyên bố không công nhận chị Nguyễn Thị T và anh Phan Văn T là vợ chồng.

Về con chung: Có hai cháu tên Phan Văn S, sinh ngày 20/7/1991; Phan Văn T, sinh ngày 18/7/1996 hiện đã trưởng thành và lao động được nên không đặt ra giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Đều không có nên không đặt ra xem xét.

Về án phí: Chị T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Chị đã nộp 300.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai số 0011194 ngày 06/4/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C nên xem như thi hành xong.

Về quyền kháng cáo: Chị T và anh T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các qui định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ