vanban.org

Bản án 105/2023/DSST — Dân sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Thanh S đối với Công ty TNHH gỗ ghép A– người đại diện theo pháp luật là ông Nguyễn H1 về “Tranh chấp hợp đồng mua bán”.

Buộc Công ty TNHH gỗ ghép A– người đại diện theo pháp luật là ông Nguyễn H1 có nghĩa vụ trả cho anh Nguyễn Thanh S số tiền 38.000.000 đồng (Ba mươi tám triệu đồng). Ghi nhận anh S không yêu cầu tính lãi. Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất c… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án dân sự — "Nguyễn Thanh S- Công Ty TNHH Gỗ ghép A"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Thanh S đối với Công ty TNHH gỗ ghép A– người đại diện theo pháp luật là ông Nguyễn H1 về “Tranh chấp hợp đồng mua bán”.
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ HÒA THÀNH
TỈNH TÂY NINH
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 105/2023/DSST
Ngày: 25 – 9 – 2023
v/v: “Tranh chấp hợp đồng
mua bán”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HÒA THÀNH, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lâm Thị Nguyện

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đinh Khắc Quỳnh

2. Bà Nguyễn Thị Bích Liễu.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Ngọc Lan – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hòa Thành tham gia phiên tòa: Ông Bùi Quốc Việt, Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý 110/2023/TLST-DS ngày 11 tháng 4 năm 2023 về “Tranh chấp hợp đồng mua bán” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 101/2023/QĐST-DS ngày 11 tháng 8 năm 2023, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh Nguyễn Thanh S, sinh năm 1990; địa chỉ: Số 20/4, ấp L, xã T, thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn – ông Nguyễn Thanh H, sinh năm 1959; Địa chỉ: Số 21, đường Ph, khu phố 1, phường L, thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

Bị đơn: Công ty TNHH Gỗ ghép A; Địa chỉ: Số 63A ấp L, xã T, thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh.

Người đại diện theo pháp luật của công ty: Ông Nguyễn H1, sinh năm 1966. Địa chỉ: Số 63A ấp L, xã T, thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ KIỆN:

Theo đơn khởi kiện, quá trình tố tụng và tại phiên tòa người đại diện của nguyên đơn ông Nguyễn Thanh Hùng trình bày:

Anh Nguyễn Thanh S là lao động tự do, do có người quen ở Cam pu chia đặt hàng là palett với anh Nguyễn Thanh S, anh Nguyễn Thanh S đến trụ sở Công ty TNHH gỗ ghép A (gọi tắt là Công ty), trực tiếp liên hệ với người đại diện theo pháp luật của Công ty là ông Nguyễn H1 để đặt sản xuất 5:000 (năm ngàn) cái Palett để chất và vận chuyển hàng hóa. Ông Nguyễn H1 đại diện của Công ty cho ông Nguyễn Thanh S xem 01 cái palett là hàng do Công ty sản xuất để làm mẫu chào hàng, hai bên thỏa thuận: về vật liệu để gia công paleet Công ty tự chịu, và gia công ra palett thành phẩm, giá mỗi cái palett thành phẩm là 110.000 đồng/01 cái palett, hàng được giao nhận tại khu vực Tà Phu, tỉnh Svayriêng, Vương quốc Campuchia. 90.00 đồng / 01 cái palett, hàng được giao nhận tại khu vực ngã tư Cây Me, thuộc xã Long Thuận, huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh. Để đảm bảo hợp đồng được thực hiện ông Nguyễn H1 (Bên nhận gia công) yêu cầu Bên đặt gia công là anh Nguyễn Thanh S phải đặt cọc trước một số tiền. Ngày 01/3/2023 anh S chuyển khoản 02 lần số tiền 50.000.000 đồng (năm mươi triệu) vào tài khoản Ngân hàng của Công ty, ông Nguyễn H1 tự tay viết giấy Biên nhận, nội dung: “Ông Nguyễn H1-Đại diện Công ty TNHH Gỗ ghép A có nhận của ông Nguyễn Thanh S số tiền 50.000.000 đồng (năm mươi triệu), tiền cọc Hợp đồng 5.000 cái palett, giá 110.000.000 đồng một cái…”. Về thỏa thuận địa điểm giao nhận hàng không được ông Nguyễn H1 ghi vào giấy Biên nhận. Ngày 08/3/2023 ông Nguyễn H1 gọi điện thoại yêu cầu anh S cho ông H1 tạm ứng thêm số tiền 10.000.000 đồng, để ông Nguyễn H1 thanh toán tiền lương cho công nhân, anh S đã chấp nhận và chuyển khoản tiếp vào tài khoản của Công ty TNHH Gỗ ghép A số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu). Như vậy để đặt cọc việc gia công, anh S đã 03 lần chuyển khoản vào vào tài khoản của Công ty TNHH Gỗ ghép A mà đại diện theo pháp luật là ông Nguyễn H1 số tiền 60.000.000 đồng (sáu mươi triệu). Ngày 09/3/2023 ông Nguyễn H1 giao cho ông anh S 200 (hai trăm) cái palett tại ngã tư Cây Me, xã Long Thuận, huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh. Số palet 200 cái này mà ông Nguyễn H1 giao cho ông anh S không đúng loại, không đúng chất lượng với hàng mẫu mà ông Nguyễn H1 gửi cho ông Nguyễn Thanh S để chào hàng, 200 (hai trăm) cái Palet này được gia công một cách cẩu thả, gia công bằng cây non, mềm không thể chịu được sức nặng của hàng hóa, bị nứt nẽ do đóng đinh nên không thể sử dụng. Do không đạt chất lượng theo yêu cầu nên khách hàng của anh Nguyễn Thanh S không nhận 200 (hai trăm) cái palett này, vì số hàng là palett đã được vận chuyển đến ngã tư Cây Me, xã Long Thuận, huyện Bến Cầu; tỉnh Tây Ninh, nếu vận chuyển về lại nơi sản xuất sẽ tốn chi phí vận chuyển nên anh Nguyễn Thanh S đã hủy bỏ số palett này. Sau đó, ngày 10/3/2023 anh Nguyễn Thanh S gọi điện thoại cho ông Nguyễn H1 phản ảnh việc Công ty giao hàng không đúng chất lượng theo yêu cầu, nên anh S phải hủy bỏ toàn bộ 200 cái palett, và yêu cầu ông Nguyễn H1 trong đợt giao hàng tiếp theo phải thực hiện đúng hợp đồng, giao hàng đúng như hàng mẫu, đúng chất lượng quy cách mà hai bên đã thỏa thuận, anh S, yêu cầu ông Nguyễn H1 phải thay đổi vật liệu để gia công là loại cây có chất lượng. Ông Nguyễn H1 không đồng ý và nói rằng phải tiếp tục gia công cho hết số lượng cây mà Công ty đã mua, anh S không đồng ý vì nếu tiếp tục gia công bằng số cây gỗ đó, gia công kiểu như hàng đã giao thì sẽ không tiêu thụ được anh Nguyễn Thanh S sẽ bị thiệt hại; ông Nguyễn H1 nói nếu anh S không đồng ý nhận loại Palet mà ông đã giao thì hai bên ngưng hợp đồng đã giao kèo, và từ đó ông Nguyễn H1 đã không giao hàng tiếp tục cho bên anh Nguyễn Thanh S, đơn phương chấm dứt hợp đồng. Anh S yêu cầu ông Nguyễn H1 nếu không tiếp tục giao hàng (Palet) cho anh S nữa, nếu Công ty đơn phương hủy hợp đồng thì hai bên thanh quyết toán cùng nhau, trừ đi giá trị số palett đã giao nhận là 200 (hại trăm cái), chấp nhận giá mỗi cái palett đã giao là 110.000 đồng, anh Nguyễn Thanh S chấp nhận chịu thiệt hại là 22.000.000 đồng (hai mươi hai triệu), và yêu cầu ông Nguyễn H1 phải trả lại cho anh Nguyễn Thanh S số tiền đã hận tạm ứng còn lại là 38.000.000 đồng (ba mươi tám triệu), ông Nguyễn H1 trả lời rằng ông đồng ý trả lại tiền đã tạm ứng, nhưng phải chờ ông bán lại số cây mà ông Nguyễn H1 đã mua dù làm vật liệu để đóng Palett. Tuy nhiên anh S không chấp nhận và yêu cầu ông Nguyễn H1 phải hoàn trả số tiền mà Công ty còn nợ lại, vì Công ty là bên có lỗi trong việc thực hiện hợp đồng, đã giao hàng không đảm bảo chất lượng theo thỏa thuận giữa hai bên không sửa chữa theo yêu cầu của bên đặt gia công là anh S. Thấy rằng Công ty TNHH gỗ ghép A mà đại theo pháp luật là ông Nguyễn H1 đã có vi phạm hợp đồng theo giao kết giữa hai bên, giao hàng palett cho bên đặt gia công không đúng chất lượng, đúng như mẫu mà hai bên đã thỏa thuận, bên đặt gia công là anh Nguyễn Thanh S đã thông báo yêu cầu sữa chửa nhưng bên nhận gia công là Công ty TNHH gỗ ghép A không chấp nhận và đơn phương chấm dứt hợp đồng gây thiệt hại cho bên đặt gia công. Do đó, anh S khởi kiện yêu cầu Công ty TNHH gỗ ghép A mà đã diện theo pháp luật là ông Nguyễn H1 có trách nhiệm phải hoàn trả lại cho anh S số tiền đặt cọc còn lại sau khi trừ tiền 200 cái palett đã giao là 38.000.000 đồng (ba mươi tám triệu).

Bị đơn Công ty TNHH gỗ ghép A – đại diện theo pháp luật là ông Nguyễn H1 đã được triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vắng mặt không lý do.

Tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn giữ nguyên lời trình bày.

Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hòa Thành trình bày:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký: Thẩm phán thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ đảm bảo đúng quy định về thời hạn, nội dung, thẩm quyền theo Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử thực hiện đúng trình tự, thủ tục đối với phiên tòa sơ thẩm dân sự; Thư ký thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Thanh S, buộc Công ty TNHH gỗ ghép A– đại diện theo pháp luật là ông Nguyễn H1 có nghĩa vụ trả cho anh S số tiền 38.000.000 đồng.

Về án phí: Tính án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và ý kiến của Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Theo công văn số 1558/SKHĐT – ĐKKD ngày 12/6/2023 của Sở kế hoạch Đầu tư tỉnh Tây Ninh cung cấp thông tin: Công ty TNHH Một thành viên gỗ ghép A Tây Ninh, mã số doanh nghiệp 3901324414, địa chỉ trụ sở chính: Số 63A ấp Long Hải, xã Trường Tây, thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh được Phòng Đăng ký kinh doanh – Sở kế hoạch và Đầu tư tỉnh Tây Ninh cấp GCN đăng ký doanh nghiệp lần đầu ngày 17/02/2022, người đại diện theo pháp luật ông Nguyễn H1, tình trạng pháp lý: Không còn hoạt động kinh doanh tại địa chỉ đã đăng ký. Cho đến thời điểm cung cấp thông tin doanh nghiệp chưa thông báo giải thể. Bị đơn Công ty TNHH Gỗ ghép A Tây Ninh, đại diện theo pháp luật ông Nguyễn H1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt Công ty TNHH Gỗ ghép A- đại diện theo pháp luật ông Nguyễn H1 là phù hợp với quy định tại Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án:

. Về quan hệ tranh chấp: Anh Nguyễn Thanh S giao kết hợp đồng mua bán với Công ty TNHH gỗ ghép A– đại diện theo pháp luật là ông Nguyễn H1 để mua 5.000 cái palett chất hàng hóa, tổng số tiền anh S đã chuyển đặt cọc cho ông H1 là 60.000.000 đồng. Công ty đã giao cho anh S được 200 cái palet nhưng không đúng chất lượng như đã thỏa thuận nên anh S yêu cầu Công ty thực hiện đúng cam kết nhưng Công ty không thực hiện, anh S yêu cầu Công ty trả lại 38.000.000 đồng đã đặt cọc nhưng Công ty không trả nên phát sinh tranh chấp, đây là tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản được quy định tại Điều 430 Bộ luật Dân sự năm 2015 và khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự.

. Xét yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Thanh S yêu cầu Công ty TNHH gỗ ghép A– người đại diện theo pháp luật là ông Nguyễn H1 có nghĩa vụ trả cho anh S 38.000.000 đồng, thấy rằng: Theo ông Nguyễn Thanh H là người đại diện của nguyên đơn cho rằng giữa anh S và ông H1 là đại diện Công ty có thỏa thuận mua bán 5.000 cái palet, giữa hai bên thỏa thuận miệng, không ký văn bản. Mặc dù thỏa thuận mua bán hàng hóa giữa anh S và Công ty TNHH gỗ ghép A không có văn bản cụ thể nhưng theo chứng cứ anh S cung cấp tại các bút lục số 52 – 57 là biên lai giao dịch chuyển khoản Ngân hàng và giấy biên nhận thể hiện ông Nguyễn H1 – đại diện Công ty TNHH gỗ ghép A có nhận của anh S 60.000.000 đồng tiền cọc hợp đồng palet 5.000 cái với giá 110.000 đồng/1 cái. Về phía bị đơn, Công ty đã giao cho anh S 200 cái palet nhưng không đúng chất lượng như đã thỏa thuận với anh S, ông Nguyễn H1 nói nếu anh S không đồng ý nhận loại Palet mà ông đã giao thì hai bên ngưng hợp đồng đã giao kết, và từ đó ông Nguyễn H1 đã không giao hàng tiếp tục cho bên anh Nguyễn Thanh S, đơn phương chấm dứt hợp đồng. Đến thời điểm hiện tại Công ty không còn hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký là Số 63A ấp Long Hải, xã Trường Tây, thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh nhưng vẫn chưa thông báo giải thể doanh nghiệp. Ông Nguyễn H1 là người đại diện theo pháp luật của Công ty đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do, không có lời trình bày nhưng có chứng cứ xác nhận ông H1 đã nhận đặt cọc của anh S tổng cộng 60.000.000 đồng, chỉ mới giao được cho anh S 200 cái palet, còn lại 300 cái palet trị giá 38.000.000 đồng phía Công ty không giao hàng cho anh S mà đơn phương chấm dứt hợp đồng làm ảnh hưởng đến quyền lợi của anh S.

Do đó, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Thang S đối với Công TNHH gỗ ghép A– người đại diện theo pháp luật là ông Nguyễn H1. Buộc Công ty TNHH gỗ ghép A– người đại diện theo pháp luật là ông Nguyễn H1 có nghĩa vụ trả cho anh Nguyễn Thang S số tiền 38.000.000 đồng (Ba mươi tám triệu đồng).

Ghi nhận S không yêu cầu tính lãi nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

. Về án phí: Công ty TNHH gỗ ghép A– người đại diện theo pháp luật là ông Nguyễn H1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là: 38.000.000 đồng x 5%= 1.900.000 đồng (một triệu chín trăm nghìn đồng).

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các điều 26, 39, 92, 147, 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 428, 430, 432, 440 của Bộ luật Dân sự 2015; Điều 74 của Luật Doanh nghiệp; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Thanh S đối với Công ty TNHH gỗ ghép A– người đại diện theo pháp luật là ông Nguyễn H1 về “Tranh chấp hợp đồng mua bán”.

Buộc Công ty TNHH gỗ ghép A– người đại diện theo pháp luật là ông Nguyễn H1 có nghĩa vụ trả cho anh Nguyễn Thanh S số tiền 38.000.000 đồng (Ba mươi tám triệu đồng). Ghi nhận anh S không yêu cầu tính lãi.

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất được theo quy định tại Điều 357 Bộ luật Dân sự năm 2015.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Công ty TNHH gỗ ghép A– người đại diện theo pháp luật là ông Nguyễn H1 phải chịu 1.900.000 đồng (một triệu chín trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Anh Nguyễn Thanh S không phải chịu tiền án phí nên hoàn trả cho anh Nguyễn Thanh S số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 950.000 đồng (chín trăm năm mươi nghìn đồng) theo biên lai thu số 0021442 ngày 11 tháng 4 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh.

4. Quyền kháng cáo:

Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

5. Quyền yêu cầu thi hành án:

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ