- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Đại L và ĐP - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Đa ̣i L, Trần Văn T phạm tội "Trộm cắp tài sản".
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỀN HẢI TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 105/2022/HS-ST Ngày: 09 - 12 - 2022 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỀN HẢI, TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Văn Lợi
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Vũ Văn Quảng
- Ông Trần Văn Hiểu
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Phƣơng Thảo – Thư ký TAND huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Mai Thi ̣ Tâm – Kiểm sát viên.
Trong ngày 09 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 109/2022/TLST – HS, ngày 14 tháng 11 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 107/2022/QĐXXST – HS, ngày 29 tháng 11 năm 2022 đối với,
Các bị cáo:
1. Nguyễn Đa ̣i L - sinh ngày 26/12/1996, tại huyện Tiền Hải , tỉnh Thái Bình; Nơi cư trú : thôn T.B, xã N.H, huyê ̣n Tiền Hải , tỉnh Thái Bình ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn D và bà Trần Thi ̣ M (đa chết); Gia đĩ
nh có 02 anh em, bị cáo là thứ hai ; Vợ, con: Chưa có ; Tiền
̀ án, tiền sự: Không. Nhân thân : Bản án 15/2018/HS ST ngày 31/01/2018 của TAND quâ ̣n Long Biên, thành phố Hà Nội xử phạt 20 tháng tù về tội “Tàng t rữ trái phép chất ma túy” . Bị bắt ta ̣m giam từ ngày 31/8/2022 cho đến nay , hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyê ̣n Tiền Hải, tỉnh Thái Bình.
(Trích xuất, có mặt tại phiên tòa)
2. Trần Văn T - sinh ngày 11/7/1993, tại: huyê ̣n Tiền Hải, tỉnh Thái Bình; Nơi cư trú: thôn T.B, xã N.H, huyê ̣n Tiền Hải, tỉnh Thái Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn T (đã chết) và bà Dương Thi ̣ T (ông T, bà T đều được tặng thưởng Huy chương kháng chiến chống Mỹ ); Gia đinh có 03 chị em, bị cáo là thứ 3; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không. ̀ Nhân thân: Bản án số 37/2019/HSST ngày 12/6/2019 của Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình xử pha ̣t 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bị bắt tạm giam từ ngày 31/8/2022 cho đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyê ̣n Tiền Hải, tỉnh Thái Bình.
(Trích xuất, có mặt ta ̣i phiên tòa)
Bị hại:
Ông Phan Văn A - sinh năm 1965 (Vắng mặt)
Đi ̣a chỉ: thôn N.L, xã T.T, huyê ̣n Tiền Hải , tỉnh Thái Bình .
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Bà Trần Thi ̣ H - sinh năm 1967
(Vắng mặt)
Đi ̣a chi: thôn V.N, xã N.H, huyê ̣̉
n tiền Hải, tỉnh Thái Bình.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ 00 phút ngày 26/8/2022, Nguyễn Đa ̣i L. hẹn Trần Văn T
đến nhà để cùng nhau đi trô ̣m cắp xe máy, khoảng 5 phút sau, T. điều khiển xe mô tô Winner màu đen, BKS: 17B8 - 326.33 của T. đến đón L. Sau đó T. chở L. ngồi sau và cả hai đi theo hướ ng từ xa N.H - xã N.T - xã T.T, mục đích nếu phát̃ hiê ̣n chủ sở hữu sơ hở , không trông coi xe máy se trô ̣̃ m cắp bán lấy tiền tiêu sài cá nhân. Khi T, L đi đến khu vực trướ c cử a nhà ông Phan Văn A tại thôn N.L, xã T.T, huyê ̣n Tiền Hải, tỉnh Thái Bình có xe mô tô Honda Wave α màu đỏ BKS 43H3-7118 của ông A dựng trướ c cử a nhà, không có ngườ i trông coi. Tăng điều khiển xe máy chở L đi qua đi la ̣i nhà ông A hai lần, thấy trong nhà không có ai, T. dừ ng xe bên phải đườ ng hướ ng từ xa T.T đi xã
N.T, cách nhà ông A khoảng̃ 10 về hướ ng xa N.T. L xuỗ
́ng xe đi đến ca ̣nh chiếc xe này, thấy xe không khóa cổ, khóa càng, L dắt bô ̣ chiếc xe đến chỗ T. đứ ng rồi ngồi điều khiển xe vừ a trô ̣m được. T. điều khiển xe mô tô của minh và dùng chân đẩy chiếc xe vừ a trô ̣m
̀
cắp được do L. điều khiển theo hướ ng từ xa T.T - xã N.T. Khi đi đến khu vự̃
c gần cầu tám tấn thuô ̣c đi ̣a phâ ̣n xa T.T, huyê ̣̃
n Tiền Hải thì dừng xe, T. tháo công tắc điê ̣n của xe máy vừ a trô ̣m cắp để đấu điê ̣n, L. dùng chân dậm nổ xe máy và cùng điều khiển đến quán thu mua phế liệu của bà Trần Thi ̣ H. để bán. L. vào trong bán xe cho bà H. được 800.000đ và cả hai chia đều cho nhau, đa sữ ̉ du ̣ng tiêu sài cá nhân hết.
Kết luâ ̣n đi ̣nh giá ngày 31/8/2022 của Hô ̣i đồng đi ̣nh giá trong tố tu ̣ng
hình sự huyện Tiền Hải , xác định : 01 xe mô tô Honda Wave α màu đỏ BKS 43H3-7118 đa qua sữ
̉ du ̣ng tri ̣ giá 3.600.000đ.
Cơ quan điều tra đa quã
̉n lý : Bà Trần Thị H , 01 xe mô tô Honda Wave α màu đỏ BKS 43H3-7118 (đa trã ̉ cho chủ sở hữu ông Phan Vă n A); bị cáo Trần Văn T. 01 xe mô tô Winner màu đen, BKS: 17B8 - 326.33.
Tại bản cáo trạng số 112/CT - VKSTH ngày 14/11/2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình đã truy tố: Các bị cáo Nguyễn Đa ̣i L, Trần Văn T . về tội "Trộm cắp tài sản" theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
* Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo. Sau khi xem xét, đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của các bị cáo; xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân, vị trí, vai trò của các bị cáo trong vu ̣ án và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Đa ̣i L, Trần Văn T. phạm tội "Trộm cắp tài sản".
Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; Điều 17; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật hình sự,
+ Xử phạt bị cáo Trần Văn T. từ 09 tháng đến 01 năm tù, thờ i ha ̣n tù tinh
́ từ ngày bắt tạm giam 31/8/2022.
+ Xử phạt bị cáo Nguyễn Đa ̣i L. từ 09 tháng đến 01 năm tù, thờ i ha ̣n tù tính từ ngày bắt tạm giam 31/8/2022.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo vì các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, bản thân các bị cáo nghiê ̣n ma túy.
- Ngoài ra còn đề nghị về trách nhiệm dân sự , xử lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo đối với các bị cáo, bị hại, ngườ i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
* Tại phiên tòa: Các bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, không có tranh luận gì.
* Các bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo đề nghị HĐXX xem xét cho các bị cáo được hưởng hình phạt nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Sau khi xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, các bị cáo và những người tham gia tố tu ̣ng khác, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Trong quá trình tiến hành tố tụng, các cơ quan, người tiến hành tố tụng đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Việc ban hành các quyết định tố tụng đúng quy định của pháp luật. Bị cáo, bị hại, ngườ i có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có khiếu nại, kiến nghị gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như kết luận điều tra, cáo trạng truy tố. Các bị cáo khai: Do không có tiền tiêu sài cá nhân , ngày 26/8/2022 Nguyễn Đa ̣i L, Trần Văn T. đã rủ nhau đi trộm cắp tài sản. Khi đi đến thôn N.L, xã T.T, huyê ̣n Tiền Hải , tỉnh Thái Bình các bị cáo thấy 01 xe mô tô Honda Wave α màu đỏ BKS 43H3-7118 của ông Phan Văn A không có người trông coi nên đã trộm cắp bán lấy tiền tiêu sài cá nhân. Trị giá chiếc xe mô tô các bị cáo trộm cắp được là 3.600.000đ.
Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, quá trình truy tố, là chứng cứ buộc tội lẫn nhau và hành vi phạm tội của các bị cáo còn được chứng minh bằng các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ và được thẩm tra tại phiên tòa như: Đơn trinh bày, lờ i khai của bi ̣ ha ̣i
̀ ông Phan Văn A; Sơ đồ hiê ̣n trườ ng và biên bản khám nghiê ̣m hiê ̣n trườ ng do Công an huyê ̣n Tiền Hải lâ ̣p ngày 31/8/2022; Biên bản ta ̣m giữ đồ vâ ̣t, tài liệu do Công an huyê ̣n Tiền Hải lâ ̣p các ngày 30 và 31/8/2022 tại UBND xã N .H và Công an huyê ̣n Tiền Hải ; Bản kết luận định giá tài sản ngày 31/8/2022 của Hội đồng đi ̣nh giá tài sản trong tố tu ̣ng hinh sự huyê ̣n Tiền Hải ; Lờ i khai của ngườ i
̀
có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị H. và lờ i khai của anh Lê Văn G.
Hành vi của các bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, làm ảnh đến trật tự, an toàn công cộng, nếp sống văn hóa trong khu dân cư, gây dư luận bức xúc trong nhân dân. Lợi du ̣ng sự sơ hở trong viê ̣c trông coi tài sản của chủ sở hữu, các bị cáo đã trô ̣m cắp đi tài sản của ho ̣. Các bị cáo là người trưởng thành có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, do lười lao động mà vẫn muốn có tiền tiêu sài cá nhân đã trộm cắp tài sản của người khác. Mặc dù biết hành vi trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật nhưng các bị cáo vẫn cố ý thực hiện.
. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi của các bị cáo Nguyễn Đa ̣i L, Trần Văn T đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự như truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình là có căn cứ, đúng pháp luật.
Điều 173. Tội trộm cắp tài sản
1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;
…
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.
. Xét vị trí , vai trò của các bi ̣ cáo Nguyễn Đa ̣i L. và Trần Văn T . thì thấy: Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, các bị cáo đều thống nhất tiếp nhận ý chí của nhau và cùng nhau thực hiện tội phạm với vai trò là người thực hành. Các bị cáo được hưởng lợi như nhau từ tài sản trộm cắp bán đi . Do đó các bị cáo có vai trò ngang nhau trong vu ̣ án .
. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy đi ̣nh ta ̣i khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Quá trình điều tra và ta ̣i phiên tòa hôm nay các bi ̣ cáo đều thành khẩn khai báo về hành vi pha ̣m tô ̣i , bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo . Đây là các tinh tiết giảm nhe ̣ trách
̀ nhiê ̣m hinh sự quy đi ̣nh ta ̣i đi ểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bô ̣ luâ ̣t hinh sự
̀
̀ mà các bị cáo được hưởng . Bị cáo Trần Văn T . có bố mẹ được nhà nước tặng thưở ng Huân chương kháng chiến chống Mỹ , đây là tinh tiết giảm nhe ̣ trách
̀ nhiê ̣m hinh sự bi ̣ cáo T. được hưở ng quy đi ̣nh ta ̣i khoản 2 Điều 51 Bô ̣ luâ ̣t hinh
̀
̀ sự. Các bị cáo đều đã bị kết án về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
. Với tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội cũng như nhân thân của các bị cáo Nguyễn Đa ̣i L. và Trần Văn T . sau khi xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo thấy các bị cáo không thể tự cải tạo. Các bị cáo đều đã bị kết án về tô ̣i “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tuy nhiên cá c bi ̣ cáo khôn g lấy viê ̣c đa bi ̣̃ kết án làm bài học để thay đổi, sử a chữa bản thân mà vẫn tiếp tục phạm tội . Bản thân các bị cáo đến hiện tại vẫn nghiện ma túy. Do đó cần thiết phải lên mứ c án phù hợp và cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ để cải tạo, giáo dục các bị cáo và góp phần vào công tác đấu tranh phòng chống tô ̣i pha ̣m.
. Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, bản thân còn nghiê ̣n ma túy. Do đó HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
. Trong vu ̣ án này còn có : Hành vi của bà Trần Thị H. mua xe máy do các bị cáo trộm cắp . Tuy nhiên quá trinh , điều tra xác đi ̣nh bà Hồi không biết
̀
đây là tài sản do các bị cáo trộm cắp mà có, không hứ a he ̣n trướ c vớ i các bi ̣ cáo . Do đó cơ quan điều tra không xử lý đối vớ i bà H. là phù hợp.
. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhâ ̣n la ̣i tài sản bị trộm cắp và không yêu cầu gì về bồi thường trách nhiệm dân sự đối vớ i các bi ̣ cáo ; bà Trần Thị H. không yêu cầu các bi ̣ cáo phải trả la ̣i số tiền 800.000đ bà bỏ ra mua chiếc xe máy nên không đặt ra giải quyết.
. Về xử lý vật chứng: 01 xe mô tô Winner màu đen , BKS: 17B8 - 326.33 đa qua sữ
̉ du ̣ng của bị cáo Trần Văn T . Đây là phương tiê ̣n các bi ̣ cáo sử dụng để đi trô ̣m cắp tài sản. Vì vậy cần t ịch thu, hóa giá sung Ngân sách nhà nướ c là phù hợp với quy định tại Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Đa ̣i L, Trần Văn T phạm tội "Trộm cắp tài sản".
2. Về hình phạt: Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; Điều 17; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật hình sự.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Đại L . 01 (mô ̣t) năm tù , thờ i hạn tù tính từ ngày bắt ta ̣m giam 31/8/2022.
- Xử pha ̣t bi ̣ cáo Trần Văn T. 01 (mô ̣t) năm tù , thờ i ha ̣n tù tinh từ ngày bắt
́ tạm giam 31/8/2022.
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu, hóa giá sung Ngân sách nhà nước xe mô tô Winner màu đen, BKS: 17B8 -326.33 đa qua sữ
̉ du ̣ng thu giữ của bi ̣ cáo Trần Văn T.
(Vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 14/11/2022)
4. Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Buô ̣c các bị cáo Nguyễn Đa ̣i L, Trần Văn T. mỗi bị cáo phải chịu: 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Phan Văn A, bà Trần Thị H. có quyền kháng cáo bản án trong thờ i ha ̣n 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| *Nơi nhận: - VKSND huyện Tiền Hải; - Các bị cáo; - Bị hại; Người liên quan; - Nhà tạm giữ CAH Tiền Hải; - Sở tư pháp tỉnh Thái Bình; - THA Dân sự, CA huyện Tiền Hải; - TAND, VKSND tỉnh Thái Bình; - Lưu hồ sơ vụ án. Thành viên Hội đồng xét xử Vũ Văn Quảng Trần Văn Hiểu | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Vũ Văn Lợi Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Vũ Văn Lợi |