- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H TỈNH BÌNH PHƯỚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 105/2022/HNGĐ-ST Ngày: 18-11-2022 V/v ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Hải
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Phan Thị Vui
Ông Phạm Quốc Vượng
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Lan – Thư ký của Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Bình Phước.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 11 năm 2022 tại Tòa án nhân dân huyện H xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 205/2022/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 10 năm 2022 về ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 109/2022/QĐXX-ST ngày 27 tháng 10 năm 2022 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trần Thị Thanh N, sinh năm 1994
Địa chỉ: Tổ 3, KP.A, TT.T, huyện H, tỉnh Bình Phước. Vắng mặt
- Bị đơn: Anh Nguyễn Tuấn V, sinh năm 1992.
Tạm trú: Tổ 3, KP.A, TT.T, huyện H, tỉnh Bình Phước. HKTT và nơi ở hiện nay: Tổ 10, KP.A, P.A, TX.B, tỉnh Bình Phước. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và bản tự khai, lời khai tại biên bản hòa giải ngày 22/4/2022, nguyên đơn chị Trần Thị Thanh N trình bày:
Chị N và anh V sau thời gian tìm hiểu năm 2016 đến năm 2017 thì tự nguyện về chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn tại UBND phường A, TX.B, tỉnh Bình Phước, có tổ chức lễ cưới theo phong tục. Hai vợ chồng sống hạnh phúc được mấy tháng thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do hai vợ chồng không hợp nhau, anh V không lo làm ăn, thường xuyên nhậu nhẹt, dùng những lời lẽ thô tục chửi chị N trước mặt bạn bè và gia đình, không tôn trọng, nói xấu chị N. Chị N không thể chấp nhận những tật xấu đó của anh V, cảm thấy hôn nhân không hạnh phúc, hiện nay chị N và anh V đã không còn chung sống với nhau nên chị N yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị N được ly hôn với anh V.
Về con chung: Anh V và chị N có 01 người con chung tên Nguyễn Tuệ M – sinh ngày 06/3/2019. Khi ly hôn, chị N yêu cầu được trực tiếp nuôi con, không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai và biên bản lấy lời khai ngày 07/4/2022, bị đơn anh Nguyễn Tuấn V trình bày:
Anh V và chị N, sau thời gian tìm hiểu thì tự nguyện về chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn tại UBND phường A, TX.B, tỉnh Bình Phước. Hai vợ chồng chung sống hạnh phúc tại Kp.A, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Phước đến đầu năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh V đi nhậu về thì anh V và chị N cãi nhau, anh V có nhào vào đe đánh chị N nhưng mục đích chỉ là dọa chị N. Sau đó chị N yêu cầu ly hôn. Nay chị N yêu cầu ly hôn thì anh V không đồng ý.
Về con chung: Có 01 người con tên Nguyễn Tuệ M – sinh ngày 06/3/2019. Khi ly hôn, anh V đồng ý để chị N được trực tiếp nuôi con. Anh V không cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có vay nợ ai cũng không cho ai vay nợ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H tại phiên tòa phát biểu:
Về tố tụng: Tòa án đã thụ lý vụ án đúng thẩm quyền, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đầy đủ, đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn và bị đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, giao con chung cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Chị Trần Thị Thanh N khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Tuấn V đăng ký tạm trú tại Tổ 3, KP.A, TT.T, huyện H, tỉnh Bình Phước. Tòa án xác định đây là vụ án về ly hôn, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện H theo quy định tại khoản 1 Điều 28; Điều 35; điểm Điều 39 của BLTTDS.
Chị N, anh V đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt, có đơn xin giải quyết vắng mặt. Tòa án quyết định giải quyết vắng mặt chị N, anh V theo quy định tại Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thấy rằng:
Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào lời trình bày của nguyên đơn và bị đơn thấy rằng: Chị N, anh V kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân P.A, TX.B, tỉnh Bình Phước vào năm 2017. Chị N cho rằng anh V không lo làm ăn, thường xuyên nhậu nhẹt, mắng chửi vợ, không tôn trọng vợ và thấy không thể chấp nhận nhựng tật xấu của anh V nên yêu cầu ly hôn. Mặc dù anh V không đồng ý ly hôn nhưng theo biên bản xác minh ngày 03/11/2022 xác định được trong quá trình chung sống với nhau, anh V ham chơi không lo phụ giúp vợ chăm lo gia đình, chị N góp ý thì anh V đuổi đánh chị N. Từ đầu năm 2022, chị N và anh V đã không còn chung sống với nhau, không quan tâm chăm sóc nhau. Như vậy, mâu thuẫn giữa anh V và chị N đã đến mức trầm trọng, không cần thiết phải kéo dài cuộc hôn nhân này. Cần chấp nhận yêu cầu về việc ly hôn của chị N.
Về con chung: Anh V, chị N có 01 người con tên Nguyễn Tuệ M – sinh ngày 06/3/2019. Khi ly hôn, chị N yêu cầu được trực tiếp nuôi cháu M, anh V đồng ý, đây là sự tự nguyện của các bên. Vì vậy, cần chấp nhận yêu cầu của chị N, giao cháu M cho chị N trực tiếp chăm sóc.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị N không yêu cầu nên không xem xét.
Về tài sản chung: Đương sự khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
Về nợ chung: Đương sự khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
Về án phí: Nguyên đơn chị N phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 228; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 39 của Bộ luật dân sự;
Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội
2.Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Trần Thị Thanh N và anh Nguyễn Tuấn V
Giấy chứng nhận kết hôn số 45/2017 ngày 15/5/2017 của Ủy ban nhân dân P.A, TX.B, tỉnh Bình Phước hết hiệu lực pháp luật khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Về con chung: Giao con chung Nguyễn Tuệ M – sinh ngày 06/3/2019 cho chị Trần Thị Thanh N trực tiếp nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con: Đương sự không yêu cầu nên không xem xét.
Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi dưỡng con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích mọi mặt của con chưa thành niên, các bên có quyền yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng, xin thay đổi người trực tiếp nuôi con nếu có căn cứ cho rằng bên kia không đáp ứng được quyền lợi của con.
Về tài sản chung: Đương sự khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
Về nợ chung: Đương sự khai không có nên không xem xét giải quyết
Về án phí: Chị Trần Thị Thanh N phải chịu án phí hôn nhân là 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí chị N đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0013724 ngày 17/02/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện H, tỉnh Bình Phước.
Nguyên đơn và bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Phước; - VKSND huyện H; - Chi cục THADS huyện H; - Các đương sự; - Nơi cấp GCN kết hôn - Lưu HS; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Minh Hải |