vanban.org

Bản án 105/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Huỳnh Văn C - Nguyễn Thị Thu"
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự Tòa án; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN H
TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 105/2022/HNGĐ-ST
Ngày 05 tháng 12 năm 2022
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H, TỈNH BẠC LIÊU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Tâm

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Liêu Tài Ngoánh

Ông Huỳnh Tài Em

- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Văn Dư – Thư ký Tòa án nhân dân huyện H,

tỉnh Bạc Liêu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên

tòa: Ông Văn Hữu Tuấn – Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện H xét xử sơ

thẩm công khai vụ án thụ lý số: 344/2022/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 10 năm 2022 về tranh chấp ly hôn, chia tài sản chung khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 94/2022/QĐXX-ST ngày 09 tháng 11 năm 2022 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Huỳnh Văn C, sinh năm 1981

Địa chỉ: Ấp V, xã V1, huyện H, tỉnh Bạc Liêu

- Bị đơn: Chị Chị T, sinh năm 1982

Địa chỉ: Ấp V, xã V1, huyện H, tỉnh Bạc Liêu.

(Anh C, chị T có đơn xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện đề ngày 07/10/2022 và các lời khai trong quá trình tố

tụng tại Tòa án nguyên đơn anh Huỳnh Văn C trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Chị T quen biết trên tinh thần tự nguyện,

có tổ chức đám cưới theo phong tục và chung sống như vợ chồng từ năm 2001, không có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Thời gian đầu sống chung hạnh phúc, đến năm 2020 vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm và cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc nên không thể tiếp tục kéo dài cuộc sống hôn nhân. Nay anh C nhận thấy hôn nhân không hạnh phúc nên yêu cầu ly hôn với chị T.

Về con chung: có 02 con chung tên Huỳnh Như Y, sinh ngày 12/8/2002 và

Huỳnh Tuấn C, sinh ngày 15/5/2004, hiện hai con đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Không có không yêu cầu Tòa án giải quyết

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn chị Chị T trình bày:

- Về hôn nhân: Chị và anh Huỳnh Văn C quen biết trên tinh thần tự nguyện,

có tổ chức đám cưới theo phong tục và chung sống như vợ chồng từ năm 2001, không có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Thời gian đầu sống chung hạnh phúc, đến năm 2020 vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm và cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc nên không thể tiếp tục kéo dài cuộc sống hôn nhân. Nay anh C yêu cầu ly hôn với chị T thì chị T đồng ý ly hôn với anh C.

- Về con chung: có 02 con chung tên Huỳnh Như Y, sinh ngày 12/8/2002 và

Huỳnh Tuấn Cường, sinh ngày 15/5/2004, hiện hai con đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung: Không có không yêu cầu Tòa án giải quyết

- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H phát biểu quan điểm:

- Về việc tuân theo pháp luật: Qua nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, từ khi thụ lý đến phiên tòa hôm nay Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng theo đúng quy định của pháp luật.

- Về nội dung vụ án:

+ Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ giữa anh Huỳnh Văn C và chị Chị

T là vợ chồng.

+ Về con chung: Các đương sự thống nhất cả 02 con chung đều đã trưởng

thành, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.

+ Về tài sản chung: Các đương sự thống nhất không có, không yêu cầu Tòa

án giải quyết nên không đặt ra xem xét.

+ Về nợ chung: Các đương sự thống nhất không có, không yêu cầu Tòa án

giải quyết nên không đặt ra xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được xem

xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng. Hội đồng xét xử nhận:

Về tố tụng:

Anh C yêu cầu ly hôn với chị T, đây là quan hệ tranh chấp về hôn nhân và

gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn chị T cư trú tại ấp V, xã V1, huyện H, tỉnh Bạc Liêu nên Tòa án nhân dân huyện H thụ lý giải quyết vụ án là đúng theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Anh C, chị T có đơn yêu cầu xin xét xử vắng mặt nên căn cứ điểm b, khoản

2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 238 của Bộ luật Tố tụng Dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.

Về nội dung:

[1] Về quan hệ hôn nhân: Anh C và chị T tự nguyện chung sống với nhau

như vợ chồng vào năm 2001, là sự kiện có xảy ra trên thực tế. Quá trình sống chung như vợ chồng anh C và chị T không đăng ký kết hôn. Quá trình giải quyết vụ án, cả anh C và chị T thống nhất xác định anh chị chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2001. Theo quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình: “Việc kết hôn không được đăng ký theo quy định thì không có giá trị pháp lý” và khoản 1 Điều 14 Luật Hôn nhân và Gia đình: “Nam nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng”. Đồng thời tại khoản 2 Điều 53 của Luật Hôn nhân và gia đình quy định: “Trong trường hợp không đăng ký kết hôn mà có yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng theo quy định tại Khoản 1 Điều 14 của Luật này; nếu có yêu cầu về con và tài sản thì giải quyết theo quy định tại Điều 15 và Điều 16 của Luật này”.

Anh C xác định cuộc sống vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, hôn

nhân không hạnh phúc, không thể tiếp tục kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, tình cảm vợ chồng không còn nên anh cương quyết yêu cầu ly hôn với chị T. Còn theo chị T thừa nhận cuộc sống vợ chồng có mâu thuẫn và cũng đồng ý ly hôn với anh C.

Xét thấy, vợ chồng phải có nghĩa vụ quan tâm, yêu thương, tôn trọng lẫn

nhau và cùng nhau chăm sóc gia đình, nhưng từ năm 2020 đến nay anh C, chị T đã bắt đầu mâu thuẫn, không quan tâm lẫn nhau, cuộc sống của ai người đó tự lo. Mặt khác, từ khi thụ lý vụ án Tòa án đã tiến hành hòa giải, cho thời gian hai bên hàn gắn nhưng các bên không hàn gắn được. Anh C vẫn cương quyết xin ly hôn với chị T chứng tỏ sự mâu thuẫn, rạn nứt trong quan hệ của anh chị không có khả năng hàn gắn lại được, mục đích hôn nhân giữa anh C, chị T không đạt được.

Từ các căn cứ trên, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân

và gia đình chấp nhận yêu cầu của anh C, tuyên bố không công nhận anh Huỳnh Văn C và chị Chị T là vợ chồng.

[2] Về con chung: Anh C và chị T thống nhất xác định có 02 con chung tên

Huỳnh Như Ý, sinh ngày 12/8/2002 và Huỳnh Tuấn Cường, sinh ngày 15/5/2004, hiện hai con đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

[3] Về tài sản chung: Anh C và chị T thống nhất không có, không yêu cầu

Tòa án xem xét, giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

[4] Về nợ chung: Anh C và chị T thống nhất không có, không yêu cầu Tòa

án xem xét, giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

[5] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn anh Huỳnh Văn C

phải chịu 300.000 đồng theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Từ các phân tích trên, đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ nên được chấp

nhận toàn bộ.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, điểm b, khoản

2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 và Điều 238, khoản 2 Điều 244 Bộ luật Tố tụng Dân sự; khoản 1 Điều 9; khoản 1 Điều 14; khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận anh Huỳnh Văn C và chị Chị T là

vợ chồng.

2. Về con chung: Anh C và chị T thống nhất xác định các con chung đã

trưởng thành, không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.

3. Về tài sản chung: Anh C và chị T thống nhất xác định không có, không

yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.

4. Về nợ chung: Anh C và chị T thống nhất xác định không có, không yêu

cầu nên không xem xét, giải quyết.

3. Về án phí: Anh Huỳnh Văn C phải chịu toàn bộ án phí hôn nhân gia đình

sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng). Anh C đã nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai thu số 0003355 ngày 18/10/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện H được chuyển thu án phí.

Án xử công khai, các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo

bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ