vanban.org

Bản án 105/2022/DSST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND Q. Long Biên, TP. Hà Nội Tuyên án 09/08/2022 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Chị Hà Thị H về việc tranh chấp Hợp đồng vay tài sản đối với bà Chu Thị H.

Buộc bà Chu Thị H có nghĩa vụ trả Chị Hà Thị H số tiền 500.000.000 đồng (Năm trăm triệu đồng). Về án phí: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản"
  • Tòa quyết gì? 1- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Chị Hà Thị H về việc tranh chấp Hợp đồng vay tài sản đối với bà Chu Thị H.
  • Căn cứ chính? Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN LONG BIÊN
——————————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 105/2022/DSST
Ngày: 09 - 8 -2022
V/v: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Mai Hoa

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Lâm

Ông Tạ Đức Minh

- Thư ký phiên tòa: Ông Lưu Tuấn Long

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Long Biên tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Hương - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 8 năm 2022 tại Tòa án nhân dân quận Long Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 45/2022/TLST-DSST ngày 01 tháng 4 năm 2022 về việc: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 63/2022/QĐXXST-DS ngày 15 tháng 7 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 51A ngày 01/8/2022 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Hà Thị H, sinh năm 1985 HKTT: Tổ 6B, khu 1A, phường Nông Trang, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ Người đại diện theo ủy quyền của Chị H là: Ông Ngô Văn N, sinh năm 1970 (Có đơn xin vắng mặt)

- Bị đơn: Bà Chu Thị H, sinh năm 1961 HKTT: Số 33 ngách 23 ngõ 118, tổ 3, Nguyễn Văn Cừ, phường Bồ Đề, quận Long Biên, Hà Nội (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các lời khai tại Tòa án, nguyên đơn Chị Hà Thị H và người đại diện theo ủy quyền trình bầy:

Do có quan hệ quen biết với bà Hồng, nên ngày 17/8/2018 Chị H có cho bà Hồng vay số tiền 500.000.000 đồng, hai bên có lập hợp đồng vay tiền tại Văn phòng công chứng Hùng Vương với nội dung: Số tiền vay là 500.000.000 đồng, thời hạn vay 02 tháng kể từ hợp đồng vay tiền được ký công chứng, lãi suất vay 10%/năm.

Sau thời hạn 02 tháng bà Hồng vẫn chưa trả cho Chị H tiền gốc và lãi, Chị H đã nhiều lần đòi tiền bà Hồng. Ngày 06/11/2019 bà Hồng có viết vào phía sau hợp đồng vay tiền với nội dung hẹn chậm nhất hết tháng 11 âm lịch sẽ trả hết tiền cho Chị H. Tuy nhiên đến nay bà Hồng vẫn chưa trả cho Chị H khoản nào.

Do vậy Chị H đã làm đơn khởi kiện đến Tòa án nhân dân quận Long Biên yêu cầu bà Hồng trả cho chị số tiền vay gốc là 500.000.000 đồng và tiền lãi từ ngày 17/8/2018 đến tháng 01/2022 là 41 tháng số tiền 170.150.000 đồng.

Ngày 08/7/2022 Chị H rút yêu cầu trả nợ lãi, chỉ yêu cầu phía bị đơn trả nợ số tiền vay 500.000.000 đồng.

Bị đơn: Bà Chu Thị H đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng không đến Tòa án làm việc cũng như không đưa ra quan điểm giải quyết vụ án. Tại phiên tòa hôm nay, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn xin vắng mặt và vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện buộc bị đơn phải trả toàn bộ tiền nợ gốc là 500.000.000 đồng cho nguyên đơn.

Bị đơn mặc dù đã được triệu tập hợp lệ đến tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 - Bộ luật tố tụng dân sự

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên trình bầy quan điểm:

- Về tố tụng: Tòa án đã tiến hành thụ lý vụ án đúng quy định của pháp luật. Thẩm phán và Hội đồng xét xử, thư ký tuân thủ theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc giải quyết vụ án. Nguyên đơn chấp hành đúng quy định của pháp luật. Bị đơn không chấp hành đúng theo quy định của pháp luật.

- Về nội dung: Kiểm sát viên tóm tắt nội dung vụ án. Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn phải trả lại cho nguyên đơn số tiền 500.000.000 đồng (Năm trăm triệu đồng), bị đơn được miễn tiền án phí do là người cao tuổi

.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ và thẩm tra chứng cứ tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

* Về tố tụng và quan hệ pháp luật:

Ngày 08/12/2021 Chị Hà Thị H khởi kiện bà Chu Thị H, sinh năm 1961, HKTT: số 33 ngách 23 ngõ 118, tổ 3, Nguyễn Văn Cừ, Bồ Đề, Long Biên, Hà Nội về việc đòi số tiền nợ gốc và nợ lãi là 670.150.000 đồng ( Sáu trăm bẩy mươi triệu một trăm năm mươi nghìn đồng ) mà Chị H cho bà Hồng vay.

Căn cứ vào khoản 2, điều 26; Điều 36, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 Tòa án nhân dân quận Long Biên thụ lý là đúng thẩm quyền.

Tòa án xác định quan hệ pháp luật là: Tranh chấp hợp đồng vay là có cơ sở và đúng quan hệ pháp luật.

* Về thời hiệu khởi kiện: Đây là vụ án tranh chấp về hợp đồng dân sự. Ngày 06/11/2019 bà Hồng có viết giấy có nội dung hẹn chậm nhất hết tháng 11 âm lịch sẽ trả hết tiền cho Chị H. (Đối chiếu với dương lịch thì ngày cuối cùng của tháng 11 âm lịch năm 2019 tức ngày 25/12/2019). Như vậy ngày 06/11/2019, bà Hồng đã thừa nhận toàn bộ nghĩa vụ của mình đối với nguyên đơn. Do vậy thời hiệu khởi kiện được bắt đầu lại từ ngày 26/12/2019 là phù hợp với quy định tại điều 157 Bộ luật dân sự năm 2017. Ngày 08/12/2021 Chị H nộp đơn khởi kiện bà Hồng tại Tòa án nhân dân quận Long Biên nên theo quy định tại điều 429 Bộ luật dân sự năm 2017 yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn trong thời hạn luật định.

* Xét yêu cầu tranh chấp hợp đồng vay của nguyên đơn:

Tại “Hợp đồng vay tiền ” ngày 17/8/2018 đã được lập tại Văn phòng công chứng Hùng Vương giữa Chị Hà Thị H và bà Chu Thị H có nội dung tóm tắt như sau “...Bên A (tức Chị H) đồng ý cho vay và Bên B (tức bà Hồng) đồng ý vay của Bên A số tiền là: 500.000.000 đồng (Năm trăm triệu đồng), thời hạn vay: 02 tháng kể từ ngày Hợp đồng này được ký công chứng” Quá trình thực hiện hợp đồng, ngày 08/11/2019, bà Hồng đã viết giấy có nội dung: Tôi có vay của Chị H 500.000.000 đồng từ ngày 17/8/2018. Tôi hẹn chậm nhất kết tháng 11 âm lịch tôi sẽ trả hết.

HĐXX thấy căn cứ vào Hợp đồng vay tiền và giấy bà Hồng viết ngày 08/11/2019 đủ cơ sở kết luận bà Hồng có vay Chị H số tiền 500.000.000 đồng và đến nay bà Hồng chưa trả số tiền trên. Nên buộc bà Hồng trả lại toàn bộ số tiền 500.000.000 đồng cho Chị H là phù hợp với quy định tại Điều 466 Bộ luật dân sự 2017.

Quá trình giải quyết tại Tòa án, Chị H tự nguyện không yêu cầu bà Hồng phải trả tiền lãi theo thỏa thuận trong hợp đồng vay tài sản mà hai bên đã ký kết. Xét thấy việc rút yêu cầu tính lãi của Chị H là hoàn toàn tự nguyện không trái quy định pháp luật nên HĐXX chấp nhận.

Vì chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên bị đơn phải chịu án phí DSST. Bà Chu Thị H sinh năm 1961 là người cao tuổi nên thuộc đối tượng được xem xét miễn giảm án phí.

Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ Điều 26, Điều 39, Điều 266, Điều 273, Điều 280 BLTTDS năm 2015

- Căn cứ Điều 351, 357, 463, 466, 468, 470 BLDS năm 2015;

- Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Chị Hà Thị H về việc tranh chấp Hợp đồng vay tài sản đối với bà Chu Thị H.

Buộc bà Chu Thị H có nghĩa vụ trả Chị Hà Thị H số tiền 500.000.000 đồng (Năm trăm triệu đồng).

2. Về án phí:

Bà Chu Thị H được miễn nộp án phí dân sự sơ thẩm.

Trả lại Chị Hà Thị H số tiền 15.403.000 đồng tiền tạm ứng án phí DSST chị đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự quận Long Biên theo biên lai số 0064994 ngày 01/4/2022.

Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật hoặc khi người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án thì bên phải thi hành án phải chịu lãi suất cơ bản theo quy định của Ngân hàng nhà nước Việt Nam đối với số tiền chưa thi hành án tương ứng với thời gian chưa thi hành án. Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự

3. Về quyền kháng cáo:

Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hợp lệ.

Cỡ chữ