- Tranh chấp gì? "TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Hà Thiếu D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Luật Phí và lệ phí
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 105/2021/HS-ST Ngày 30 tháng 6 năm 2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Sỹ Hùng
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nghiêm Thị Xuân Huê
2. Ông Đinh Tình Thanh Phước
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Phương là thư ký Tòa án Nhân dân Quận 1.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 1 tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Thùy Trang - Kiểm sát viên.
Trong ngày 30 tháng 6 năm 2021 tại trụ sở Tòa án Nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 80/2021/TLST-HS ngày 19 tháng 5 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 695/2021/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 6 năm 2021 đối với bị cáo:
Họ và tên: Hà Thiếu D; giới tính: Nam; sinh ngày 26/10/1987 tại: Thành phố Hồ Chí Minh; hộ khẩu thường trú: 780/2A đường Đ, Phường B, Quận N, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch Việt Nam; dân tộc: Hoa; nghề nghiệp: Đầu bếp; trình độ học vấn: 06/12; con ông Hà Mãng Q (sinh năm 1965) và bà Trần Trân P (sinh năm 1969 (đã chết); bị cáo là con duy nhất trong gia đình; Vợ: Hà Gia N sinh năm 1985; Con có 02 người con, lớn nhất sinh năm 2009, nhỏ nhất sinh năm 2020.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt và tạm giam từ ngày 08/02/2021 và có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Chị Nguyễn Thị Mai T, sinh năm 1986; địa chỉ: 95/302A đường H, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hà Thiếu D nghiện ma túy và trước đây nhiều lần đã mua ma túy từ P (không rõ nhân thân, lai lịch). Vào tối ngày 08/02/2021, do muốn sử dụng ma túy nên D gọi điện hỏi mua ma túy tổng hợp của P và hẹn giao ma túy trên đường T, gần khu vực chung cư C, Phường T, Quận N (không rõ địa chỉ cụ thể). Sau đó, D điều khiển xe mô tô mang biển kiểm soát 59S3 - 261.16 đến chỗ hẹn và mua của P 01 gói ma túy tổng hợp loại Methamphetamine với giá 800.000 đồng đã được P dùng keo dán giấu sẵn giữa 02 khẩu trang y tế màu xanh. Đồng thời, P yêu cầu D xóa số điện thoại của P trong danh bạ và nhật ký trên điện thoại mà D đã dùng để liên lạc mua ma túy trước đó. Sau khi mua được ma túy, D đeo 02 khẩu trang có cất giấu sẵn gói ma túy tổng hợp lên mặt, tiếp tục điều khiển xe đi về chỗ làm tại tỉnh Đ. Đến khoảng 22 giờ 30 phút ngày 08/02/2021, khi D điều khiển xe đến giao lộ Nguyễn Thị Minh Khai - Nguyễn Bỉnh Khiêm, phường Bến Nghé, Quận 1 thì bị các anh A và V (Cán bộ thuộc Đội 3, Phòng Cảnh sát hình sự - Công an TP. Hồ Chí Minh) đang tuần tra phát hiện D có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy nên Tổ công tác yêu cầu D dừng xe để kiểm tra. Qua kiểm tra, phát hiện 01 gói nylon chứa tinh thể không màu được dán cất giấu kỹ, kẹp giữa 02 khẩu trang mà D đeo trước mặt (D khai là ma túy) nên Tổ công tác đã tiến hành thu giữ, bắt và giao D cùng phương tiện cho Công an phường Bến Nghé, Quận 1 lập biên bản bắt người phạm tội quả tang rồi chuyển hồ sơ đến Cơ quan CSĐT Công an Quận 1 điều tra theo thẩm quyền.
Theo bản Kết luận giám định số 1182/KLGĐ-MT ngày 17/02/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an TP. Hồ Chí Minh, tinh thể không màu trong 01 gói được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên D và hình dấu công an phường Bến Nghé, Quận 1 là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 1,5465 gam, loại Methamphetamine.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 1, D khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội trên, lời khai của D phù hợp các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Qua quá trình điều tra, D không nhận dạng được đối tượng P do các lần trao đổi mua bán trái phép chất ma túy, P đều đeo khẩu trang; đồng thời không xác định được nhân thân, lai lịch của P nên chưa xử lý; khi nào có đủ căn cứ sẽ xử lý sau.
Vật chứng thu giữ:
- 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại SH Mode, biển số 59S3 - 261.16, số máy JF87E5118020, số khung: RLHJF515XKZ050137 do chị Nguyễn Thị Mai T (bạn của D) đứng tên đăng ký. Ngày 06/02/2021, chị T giao xe cho D nhờ mang đi bảo dưỡng và được D sử dụng đến ngày 08/02/2021 thì bị bắt tạm giữ như trên; chị T không biết việc D dùng xe này đi mua ma túy sử dụng.
- Thu giữ của D:
+ 01 gói nylon chứa 1,5465 gam ma túy ở thể rắn, loại Methamphetamine;
+ 01 điện thoại di động hiệu Oppo, các số imei: 862651038804578, 862651038804560; 01 điện thoại di động hiệu Samsung, các số imei: 352933080836980/10, 352934080836988/10;
+ 02 khẩu trang y tế màu xanh;
Hiện tất cả vật chứng đang nhập kho Công an Quận 1.
Tại phiên tòa sơ thẩm:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh trình bày:
+ Giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo như nội dung bản cáo trạng số 86/CTr-VKS ngày 18 tháng 5 năm 2021 và đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù giam. Phạt bổ sung bị cáo 5.000.000 đồng để sung vào công quỹ nhà nước.
Về vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy:
+ 01 gói niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Nguyễn Xuân Sang, Lê Anh Kế, ghi vụ số 1182/21 Q1;
+ 02 khẩu trang y tế màu xanh;
Tịch thu sung công quỹ nhà nước:
01 điện thoại di động hiệu Samsung, các số imei: 352933080836980/10, 352934080836988/10 của bị cáo D là công cụ phạm tội.
Trả lại:
Chị Nguyễn Thị Mai T 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại SH Mode, biển số 59S3 - 261.16, số máy JF87E5118020, số khung: RLHJF515XKZ050137.
Bị cáo D 01 điện thoại di động hiệu Oppo, các số imei: 862651038804578, 862651038804560 nhưng cần tiếp tục lưu giữ để đảm bảo thi hành án.
- Bị cáo thống nhất tội danh và bản luận tội của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra - Công an Quận 1, Viện kiểm sát nhân dân Quận 1, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Theo bản Kết luận giám định số 1182/KLGĐ-MT ngày 17/02/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an TP. Hồ Chí Minh, tinh thể không màu trong 01 gói được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên D và hình dấu công an phường Bến Nghé, Quận 1 là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 1,5465 gam, loại Methamphetamine.
Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, tang vật thu giữ và các tài liệu khác mà cơ quan điều tra thu thập có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở xác định hành vi của bị cáo D đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xét: Hành vi phạm tội của bị cáo là cố ý, nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách về độc quyền quản lý cũng như việc phòng chống tội phạm về ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự trị an và an toàn xã hội. Ma túy không những hủy hoại sức khỏe của chính người sử dụng nó, mà còn làm tha hóa thanh thiếu niên, là một trong những nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm nguy hiểm khác và là một trong những tác nhân lan truyền căn bệnh của thế kỷ HIV-AIDS. Bản thân bị cáo nhận thức rõ tác hại của ma túy nhưng vẫn cố tình mua về cất giữ để sử dụng số ma túy ở thể rắn, có khối lượng 1,5465 gam, loại Methamphetamine. Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân Quận 1 đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, phù hợp với quy định của pháp luật, cần thiết phải áp dụng hình phạt nghiêm minh nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo và góp phần đấu tranh, phòng ngừa tội phạm nói chung.
Ngoài ra, Hội đồng xét xử còn căn cứ quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 để áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo.
Xét: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.
Về vật chứng vụ án:
- Tịch thu tiêu hủy:
+ 01 gói niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Nguyễn Xuân Sang, Lê Anh Kế, ghi vụ số 1182/21 Q1;
+ 02 khẩu trang y tế màu xanh;
- Tịch thu sung công quỹ nhà nước:
+ 01 điện thoại di động hiệu Samsung, các số imei: 352933080836980/10, 352934080836988/10 của bị cáo D là công cụ phạm tội.
- Trả lại:
+ Chị Nguyễn Thị Mai T 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại SH Mode, biển số 59S3 - 261.16, số máy JF87E5118020, số khung: RLHJF515XKZ050137.
+ Bị cáo D 01 điện thoại di động hiệu Oppo, các số imei: 862651038804578, 862651038804560 nhưng cần tiếp tục lưu giữ để đảm bảo thi hành án.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Hà Thiếu D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Căn cứ điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Hà Thiếu D 01 năm 06 tháng tù.
Thời hạn tù tính từ ngày 08 tháng 02 năm 2021.
Phạt bị cáo Hà Thiếu D 5.000.000 (Năm triệu) đồng để sung Ngân sách Nhà nước; Kể từ ngày Cơ quan thi hành án chủ động ra quyết định thi hành án, nếu bị cáo không nộp số tiền phạt như đã nêu trên, thì hàng tháng bị cáo còn phải chịu thêm tiền lãi theo mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
- Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Tịch thu tiêu hủy:
01 gói niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Nguyễn Xuân Sang, Lê Anh Kế, ghi vụ số 1182/21 Q1 theo Phiếu nhập kho vật chứng số 53/21-PNK ngày 24/3/2021 của Công an Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.
02 khẩu trang y tế màu xanh theo Phiếu nhập kho vật chứng số 61/21-PNK ngày 27/4/2021 của Công an Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.
Tịch thu sung vào công quỹ nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Samsung, các số imei: 352933080836980/10, 352934080836988/10 bị cáo dùng vào việc liên lạc mua bán ma túy theo Phiếu nhập kho vật chứng số 61/21-PNK ngày 27/4/2021 của Công an Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Trả lại cho chị Nguyễn Thị Mai T 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại SH Mode, biển số 59S3 - 261.16, số máy JF87E5118020, số khung: RLHJF515XKZ050137 theo Phiếu nhập kho vật chứng số 61/21-PNK ngày 27/4/2021 của Công an Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.
Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động hiệu Oppo, các số imei: 862651038804578, 862651038804560 theo Phiếu nhập kho vật chứng số 61/21-PNK ngày 27/4/2021 của Công an Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh nhưng tiếp tục lưu giữ để đảm bảo thi hành án.
- Áp dụng các Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí năm 2015 và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.
Buộc bị cáo phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Áp dụng các Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Chị Nguyễn Thị Mai T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND Tp. Hồ Chí Minh; - VKSND Q.1, Tp. Hồ Chí Minh; - Cơ quan THA HS có thẩm quyền; - Bị cáo; - Người tham gia tố tụng khác; - CCTHADS Q.1, Tp. Hồ Chí Minh; - Lưu: VP, HS./. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Sỹ Hùng |