- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Văn S - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bịcáo Lê Văn S; giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 43/2021/HSST ngày 29/9/2021 của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, như sau:
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA- VŨNG TÀU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 105/2021/HSPT Ngày 21 - 12 - 2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Ngọc Thiện
Các Thẩm phán:
Ông Đặng Đức Hào
ÔngĐoàn Ngọc Thiện
- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Trung Tín, Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Hùng Cường - Kiểm sát viên Trung cấp.
Ngày 21 tháng 12 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 148/2021/HSPT ngày 16/11/2021 đối với bị cáo Lê Văn S do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 43/2021/HSST ngày 29/9/2021 của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
- Bị cáo có kháng cáo:
Lê Văn S; sinh năm 2002 tại Bà Rịa – Vũng Tàu; Nơi cư trú: khu phố T, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; nghề nghiệp: thợ hồ; trình độ văn hóa: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn B và bà Võ Thị Thanh G; Vợ, con: không. Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú (Có mặt).
Ngoài ra, trong vụ án còn có bị hại nhưng không có kháng cáo và không liên quan đến kháng cáo nên Tòa không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do thiếu tiền tiêu xài nên Lê Văn S nảy sinh ý định đột nhập vào nhà anh Huỳnh Tấn Đ (sinh năm: 1983 – là hàng xóm của S) để trộm cắp tài sản. Vào khoảng 02 giờ ngày 28/6/2021, S lấy 01 cái ghế bằng gỗ cao 1,2 mét đặt gần bức tường rào phía sau nhà anh Đ, S đứng lên ghế rồi trèo qua tường rào đi vào bên trong khu vực nhà anh Đ. S phát hiện phía bên hông nhà không khóa cửa mà chỉ gài lại bằng 01 chiếc đũa ở bên ngoài nên S gỡ chiếc đũa ra đi vào bên trong nhà. S đi lên phòng thờ thì nhìn thấy 01 điện thoại Iphone 11 Pro max 64G, màu xám của anh Đ đang cắm sạc nên S đã lấy điện thoại bỏ vào túi quần rồi đi theo lối cũ ra ngoài. Khi S đang chuẩn bị leo tường rào ra ngoài thì anh Nguyễn Hồng K (sinh năm: 1999 – cháu của anh Đ) phát hiện tri hô và giữ S lại giao cho Công an. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ, S đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như vừa nêu trên.
Tang vật, tài sản thu giữ: Công an thu giữ 01 điện thoại hiệu Iphone 11 Pro max 64G, màu xám và 01 cái ghế bằng gỗ cao 1,2 mét.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 16/KL-HĐĐGTS ngày 02/7/2021 của Hội đồng định giá tài sản huyện Đ kết luận: “01 điện thoại hiệu Iphone 11 Pro max 64G, màu xám bị bể màn hình và bể vỏ có giá trị còn lại là 10.000.000 đồng”.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 43/2021/HSST ngày 29 tháng 9 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo Lê Văn S phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Lê Văn S 09 (chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về án phí, xử lý vật chứng và quyền kháng cáo theo quy định.
Ngày 12/10/2021, bị cáo Lê Văn S có đơn kháng cáo xin được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình và giữ nguyên yêu cầu kháng cáo như đã nêu trên.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa đã phát biểu quan điểm đồng thời phân tích, đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm trong hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Qua đó Đại diện Viện kiểm sát nhận xét bản án sơ thẩm đã xét xử bị cáo là đúng người, đúng tội, mức án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo là phù hợp, tại phiên tòa phúc thẩm không có tình tiết giảm nhẹ nào mới nên đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ; sau khi nghe quan điểm Kiểm sát viên, ý kiến của bị cáo;
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Đơn kháng cáo của bị cáo Lê Văn S làm và gửi trong thời hạn quy định nên hợp lệ, Hội đồng xét xử xem xét theo trình tự phúc thẩm như sau:
Về tố tụng:
Trong quá trình giải quyết vụ án hành vi của Thẩm phán, quyết định của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã tuân thủ đúng thủ tục tố tụng. Bị cáo và các đương sự khác không có ai khiếu nại hay tố cáo hành vi, quyết định của Thẩm phán và của Tòa án.
Về tội danh và điều luật áp dụng:
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Nhận thấy lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm và phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đủ cơ sở để xác định như sau:
Khoảng 02 giờ ngày 28/6/2021, tại nhà của anh Huỳnh Tấn Đ ở khu phố T, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu, Lê Văn S đã có hành vi lén lút trộm cắp của anh Đ 01 điện thoại hiệu Iphone 11 Pro max 64G, màu xám trị giá 10.000.000 đồng. Do đó hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” nên Tòa án nhân dân huyện Đ tuyên bố bị cáo phạm tội theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Về kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo S như sau:
Bị cáo là người đã trưởng thành, đầy đủ năng lực hành vi dân sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng cần tiền tiêu xài mà không phải lao động chân chính nên đã thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của bị hại được pháp luật bảo vệ, xâm phạm đến trật tự, an toàn xã hội. Do vậy, cần xử phạt bị cáo một mức án nghiêm để răn đe và phòng ngừa chung. Khi quyết định hình phạt cấp sơ thẩm đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo theo quy định tại điểm h, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự và xử phạt bị cáo S 09 (chín) tháng tù là phù hợp. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo không cung cấp được tình tiết nào mới theo quy định của pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử thống nhất không chấp nhận kháng cáo của bị cáo; giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.
Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
1. Không chấp nhận kháng cáo của bịcáo Lê Văn S; giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 43/2021/HSST ngày 29/9/2021 của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, như sau:
Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn S phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Lê Văn S 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
2. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm số 43/2021/HSST ngày 29/9/2021 của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
3. Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm ngàn) đồng.
Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (21/12/2021).
| Nơi nhận: - Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tàu; - PV 27 Công an tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; - Sở Tư pháp tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; - Trại tạm giam –Công an tỉnh BR-VT; - Tòa án nhân dân huyện Đ; -Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ; - Công an huyện Đ; - Chi cục THADS huyện Đ; - Bị cáo; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Huỳnh Ngọc Thiện |