- Tranh chấp gì? án hình sự — "Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Ngọc A phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 105/2021/HS-ST Ngày: 22/7/2021 |
NHÂN DANH
NUỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quốc Trí
Các hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Đô
2. Ông Đỗ Văn Hòa
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Quỳnh Trang – Thẩm tra viên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hằng - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 7 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 79/2021/TLST-HS ngày 27 tháng 5 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 133/QĐXXST-HS ngày 14/6/2021 đối với bị cáo:
Lê Ngọc A, Sinh năm: 1956 tại Bình Thuận; Giới tính: Nam.
Nơi cư trú: Khu phố 1, phường B, TP. Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận;
Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 6/12; Nghề nghiệp: Thợ mộc; Cha: ông Lê Văn C (đã chết) ; mẹ: bà Nguyễn Thị D (đã chết); Vợ: Tống Thị E; Con có 06 người. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo hiện áp dụng biện pháp ngăn chặn “cấm đi khỏi nơi cư trú”. Bị cáo có mặt tại phiên toà.
Người bị hại: Bà Lê Thị Ngọc F, sinh năm 1974, Trú tại: khu phố 1, phường B, Tp Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận (có đơn xin xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Lê Ngọc A và bà Lê Thị Ngọc F là anh em ruột, có mâu thuẫn nhiều năm và thường xuyên cải vã với nhau về việc tranh chấp ngôi nhà thờ cha mẹ tại khu phố 1, phường B, hiện bà F đang cư trú tại ngôi nhà này. Vào khoảng 12 giờ 30 phút ngày 31/7/2020, Lê Ngọc A sau khi uống rượu xong đến trước ngôi nhà trên cãi nhau với bà F. Đến 13 giờ 00 phút cùng ngày thì có Công an phường B đến giải quyết nên A về lại nhà của mình. Khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày, A cầm 01 cây tua vít, 01 cây dũa đi vào ngôi nhà thờ trên để đi lên gác sửa chữa điện tại bàn thờ, khi đi xuống cầu thang bà F nhìn thấy A thì nói “Mày đi đâu qua đây”. Thấy bà F là em gái nhưng xưng hô không phù hợp nên A bức xúc, sẵn trên tay đang cầm 01 cây tua vít và 01 cây dũa nên A đi đến vị trí bà F đang ngồi trên giường và dùng tay phải cầm cây dũa đâm 01 nhát trúng vào gò má phải của bà F thì bà F quay lưng bỏ chạy. Lúc này A đuổi theo tiếp tục dùng tay phải cầm cây dũa đâm bà F thêm 02 nhát trúng vào vai trái và lưng trái của bà F. Sau khi bị đâm bà F quay lại giằng co với A thì cả hai ngã té xuống nền nhà làm bà F bị chấn thương bàn tay phải. Lúc này con dâu của bà F là chị Ngô Thị Hoài G đang nằm ngủ ở buồng đối diện nghe tiếng la hét nên chạy đến can ngăn, sau đó bà F được đưa đến bệnh viện đa khoa H để điều trị. Quá trình điều tra Lê Ngọc A đã khai nhận hành vi của mình như trên.
Ngày 31/7/2020, bà F có đơn tố cáo hành vi gây thương tích và yêu cầu xử lý hình sự đối với Lê Ngọc A.
Tại Bản kết luận giám định số 369/2020/TGT ngày 23/9/2020 của Trung tâm pháp y tỉnh Bình Thuận kết luận:
- Vết thương phần mềm gò má phải, đã được điều trị hiện để lại sẹo mờ, kích thước: 6 x 0,1 cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là 6%.
- Vết thương phần mềm vùng vai trái, đã được điều trị hiện để lại sẹo lành, kích thước: 0,4 x 0,4 cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là 1%.
- Vết thương phần mềm vùng lưng trái, đã được điều trị hiện để lại sẹo lành, kích thước 0,5 x 0,2 cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là 1%.
- Chấn thương ngón V bàn tay phải, hiện cứng khớp liên đốt xa ngón V bàn tay phải. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là 1%.
- Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 9%.
- Các vết thương, chấn thương do vật tày có cạnh gây ra.
- Vết thương gò má phải có chiều hướng tác động từ phải sang trái, từ trên xuống dưới; Vết thương vùng vai trái có chiều hướng tác động từ trái sang phải; Vết thương vùng lưng trái có chiều hướng tác động từ sau ra trước; Chấn thương bàn tay phải có chiều hướng tác động theo tư thế cơ năng của cơ thể với vật gây thương với lực tác động nhẹ.
- Hiện cứng khớp liên đốt xa ngón V bàn tay phải.
Vật chứng vụ án: Cơ quan điều tra đã thu giữ của Lê Ngọc A:
- 01 tua vít 04 cạnh dài 25 cm, gồm 02 phần: cán bằng nhựa và mũi bằng kim loại gắn dính nhau. Cán nhựa màu vàng – đỏ dài 10 cm, phần mũi bằng kim loại dài 15 cm, hình trụ tròn đặc, đường kính 0,5 cm; phần cuối mũi có 04 cạnh.
- 01 cây dũa dài 20 cm, gồm 02 phần: cán bằng gỗ và mũi bằng kim loại gắn dính nhau. Cán bằng gỗ màu nâu, hình tụ tròn dài 11 cm, đường kính 2,2 cm, phần mũi bằng kim loại màu đen có chiều dài 9 cm. A khai đây là các hung khí dùng để gây thương tích cho bà F.
Hiện Viện kiểm sát nhân dân TP.Phan Thiết đã ra Quyết định chuyển số vật chứng trên đến Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết chờ xử lý.
Tại phiên tòa sơ thẩm:
kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết giữ nguyên Quyết định truy tố theo Cáo trạng số 82/CT-VKS ngày 26/5/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết.
Đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bị cáo Lê Ngọc A phạm tội “Cố ý gây thương tích”
Áp d ng: điểm a khoản 1 Điều 134, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Lê Ngọc A từ 06 tháng đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 tua vít 04 cạnh dài 25 cm; 01 cây dũa dài 20 cm là vật chứng vụ án không còn giá trị sử dụng.
Về phần bồi thường dân sự: Tại giai đoạn điều tra và đơn xin xét xử vắng mặt người bị hại là bà Lê Thị Ngọc F không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại nên Viện kiểm sát không có ý kiến.
Bị cáo xác định cáo trạng truy tố là không oan; bị cáo không tranh luận và đề nghị hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Người bị hại yêu cầu tòa án xét xử bị cáo theo quy định của pháp luật.
Căn cứ vào các chứng cứ và các tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Viện kiểm sát, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Phan Thiết, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố: Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng và đầy đủ về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, trình tự thủ tục tố tụng cũng như các quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, trình tự thủ tục tố tụng cũng như các quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Về căn cứ buộc tội bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố. Bị cáo kh ng định những lời khai của mình trong quá trình điều tra là hoàn toàn tự nguyện, đúng sự thật, bị cáo không bị bức cung và Cáo trạng truy tố là đúng, không oan cho bị cáo. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại cũng như các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Như vậy, có đủ cơ sở kết luận đây là vụ án “Cố ý gây thương tích” xảy ra vào khoảng hơn 13 giờ 30 ngày 31/7/2020 tại khu phố 1, phường B, Tp Phan Thiết xuất phát từ mâu thuẫn trong gia đình nên Lê Ngọc A đã có hành vi sử dụng 01 cây tua vít và 01 cây dũa bằng kim loại là hung khí nguy hiểm đâm 01 nhát trúng vào gò má phải, 02 nhát trúng vào vai trái và lưng trái của bà F gây thương tích cho bà F với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 9%. Do vậy, Cáo trạng số 82/CT-VKS ngày 26/5/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết truy tố bị cáo Lê Ngọc A về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a khoản 01 Điều 134 của Bộ luật hình sự là có căn cứ.
Về tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi: Bị cáo là người có đủ năng lực, trách nhiệm hình sự, xong vì mâu thuẫn nhỏ mà bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi dùng cây tua vít và cây dũa đâm gây thương tích cho chính người em gái của mình. Hành vi của bị cáo đã xâm hại đến sức khỏe của người khác và gây mất trật tự trị an tại địa phương nên cần phải xử lý để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn, thể hiện sự ăn năn hối cải, bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, ngoài ra nguyên nhân xảy ra vụ án cũng có phần xử sự không hay của người bị hại, bị cáo là người lớn tuổi, hiện đang có bệnh về phổi và thiếu máu tim cục bộ, đây là tình tiết giảm nhẹ ở khoản 2 Điều 51. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng nên chưa cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội để bị cáo tự cải tạo cũng đủ răn đe nên áp dụng điều 65 Bộ luật hình sự cho các bị cáo
Về bồi thường dân sự: Do người bị hại là bà Lê Thị Ngọc F không yêu cầu nên hội đồng xét xử không đề cập xem xét.
Về xử lý vật chứng của vụ án: 01 tua vít 04 cạnh dài 25 cm, phần cuối mũi có 04 cạnh; 01 cây dũa dài 20 cm, là công cụ bị cáo sử dụng làm hung khí gây án không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố: Bị cáo Lê Ngọc A phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Áp d ng: điểm a khoản 1 Điều 134; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Lê Ngọc A (09) chín tháng tù, nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách là 18 tháng kể từ ngày tuyên án ngày 22/7/2021.
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường B giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp trong thời gian thử thách nếu bị cáo thay đổi nơi cư trú, làm việc thì thực hiên theo quy định của Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật này.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy 01 tua vít 04 cạnh dài 25 cm, phần cuối mũi có 04 cạnh; 01 cây dũa dài 20 cm, hiện đang giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết theo biên bản bàn giao ngày 04/6/2021 của Cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố Phan Thiết.
Về án phí: Áp dụng khoản 02 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Lê Ngọc A phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Quyền kháng cáo bản án của bị cáo là 15 ngày tròn kể từ ngày tuyên án (22/7/2021), người bị hại vắng mặt tại phiên tòa là 15 ngày tròn kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
| Nơi nhận: VKSND tp Phan Thiết; TAND tỉnh Bình Thuận; Công an tp Phan Thiết; Người tham gia tố tụng; UBND địa phương nơi b/c thường trú; Thi hành án thành phố Phan Thiết; Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm Phán Chủ Tọa Phiên Tòa Trần Quốc Trí |