vanban.org

Bản án 105/2021/DS-ST — Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường

TAND huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau Tuyên án 06/07/2021 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Quách Cẩm N. Buộc bà Cao Thị L, ông Trần Văn C có nghĩa vụ liên đới trả cho bà N số tiền là: 70.

Kể từ ngày bà N có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bà L, ông C chậm thi hành khoản tiền trên thì hàng tháng bà L, ông C còn phải chịu thêm khoản lãi suất chậm thi hành theo mức lãi suất chậm thực hiện nghĩa vụ được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự tương ứng số tiền và thời gian chậm thi… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "Quách Cẩm N - Cao Thị L"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Quách Cẩm N. Buộc bà Cao Thị L, ông Trần Văn C có nghĩa vụ liên đới trả cho bà N số tiền là: 70.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU
——————————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 105/2021/DS-ST
Ngày 06 - 7 - 2021
V/v tranh chấp hụi

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Dũng Liêm.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Hiển.

Ông Trần Hùng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Hà Chí Đệ là Thư ký Toà án nhân dân huyện Đầm Dơi.

Ngày 06 tháng 7 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 470/2020/TLST - DS ngày 11 tháng 11 năm 2020 về việc “tranh chấp hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 251/2021/QĐXXST-DS ngày 12 tháng 5 năm 2021 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Quách Cẩm N, sinh năm 1965. Địa chỉ: Ấp Thuận L, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau (có mặt).

Bị đơn:

- Ông Trần Văn C, sinh năm 1963 (vắng mặt).

- Bà Cao Thị L, sinh năm 1968 (có mặt).

Cùng địa chỉ: Ấp Th, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Ông Lê Thanh B, sinh năm 1968 (vắng mặt).

- Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1963 (vắng mặt).

Cùng địa chỉ: Ấp Thuận L, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn bà Quách Cẩm N trình bày:

Trước đây bà có tham gia chơi hụi của bà L làm chủ hụi, bà tham gia 01 chưng ở 01 dây cụ thể: Loại hụi 5.000.000 đồng mở ngày 25/01/2017 âm lịch, một tháng khui 01 lần, do dây hụi này chỉ có 10 chưng nên sau khi mở bà L đã thống nhất với các hụi viên là nhập dây hụi này vào với dây hụi của ông Lê Thanh B, bà Nguyễn Thị N. Do bà cũng có tham gia 01 chưng hụi của ông B, bà N nên bà đồng ý, từ đó dây hụi này có 34 chưng, bà tham gia 02 chưng (đã phát sinh tranh chấp 01 chưng với ông B, bà N và đã được Tòa án thụ lý giải quyết). Đối với chưng hụi tham gia của bà L thì hàng tháng bà L là người trực tiếp đến gom tiền hụi của bà và đưa cho ông B, bà N, việc bà L có đưa cho ông B hay không thì bà không biết chính xác. Bà đóng được 15 đợt thì bà L tuyên bố vỡ hụi và không gom tiền hụi nữa, bà L có dẫn bà đến nhà ông B, bà N để thỏa thuận giao cho ông B, bà N gom tiếp chưng hụi này, ông B, bà N đồng ý nhưng sau đó ông B, bà N cũng không gom hụi này nữa. Nay bà yêu cầu bà L, ông C phải trả cho bà số tiền hụi bà đã đóng 15 đợt là 75.000.000 đồng.

Quá trình giải quyết vụ án, bà N thay đổi nội dung khởi kiện, bà yêu cầu bà L, ông C trả cho bà số tiền hụi là 70.000.000 đồng.

Bị đơn Cao Thị L trình bày:

Bà thống nhất có việc bà mở hụi và bà N tham gia 01 chưng, loại hụi 5.000.000 đồng, mở ngày 25/01/2017 âm lịch, một tháng khui 01 lần, do chỉ kêu được 10 chưng nên bà thống nhất nhập vào dây hụi của ông B, bà N và được sự đồng ý của các hụi viên, các hụi viên cũng tham gia khui hụi tại nhà ông B, riêng bà N không có đi khui hụi nên không biết việc nhập hụi này. Sau khi khui hụi bà là người trực tiếp gom hụi của bà N 15 kỳ sau đó giao tiền cho ông B, việc giao tiền không ký nhận với nhau.

Sau khi bà bể hụi, bà có dẫn bà N đến gặp ông B, ông B đồng ý bà N tham gia hụi của ông và có yêu cầu bà N đến tham gia khui hụi tại nhà ông B và đóng hụi trực tiếp cho ông B, không thông qua bà nữa, việc thỏa thuận chỉ bằng lời nói, tuy nhiên sau đó ông B không đồng ý gom phần hụi sống của bà N mà chỉ gom hụi chết (giữa bà N với ông B cũng có phát sinh tranh chấp).

Nay bà N yêu cầu vợ chồng bà trả số tiền hụi 70.000.000 đồng bà không đồng ý, vì số tiền hụi bà gom của bà N bà đã giao cho ông B, nên ông B có trách nhiệm với bà N về số tiền này. Bà thống nhất số tiền hụi bà đã gom của bà N là 70.000.000 đồng.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Thanh B trình bày:

Hụi của bà N và bà L ông không biết và không có liên quan.

Đối với ông Trần Văn C, bà Nguyễn Thị N: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nhưng ông C, bà N không có ý kiến gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: Ông C, ông B, bà N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đối với các đương sự theo quy định.

Về quan hệ pháp luật: Nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả số tiền hụi mà nguyên đơn đã đóng cho bị đơn nên xác định đây là tranh chấp hụi thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Theo đơn khởi kiện, nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả tiền nợ hụi là 75.000.000 đồng. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn thay đổi yêu cầu bị đơn trả số tiền là 70.000.000 đồng, việc thay đổi không vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu theo quy định tại khoản 1 Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự nên được chấp nhận.

Về nội dung: Tại phiên tòa bà N và bà L thống nhất có việc bà L mở hụi 5.000.000 đồng vào ngày 25/01/2017 âm lịch và bà N có tham gia 01 chưng, số tiền bà N đã đóng cho bà L là 70.000.000 đồng tương đương với 15 lần khui hụi.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy: Nội dung khởi kiện của bà N yêu cầu bà L, ông C trả số tiền hụi nêu trên đã được bà N khởi kiện ông B, bà N vào năm 2019. Tại bản án sơ thẩm số 99/2019/DS – ST ngày 27/8/2019 của Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi và bản án phúc thẩm số 307/2019/DS – PT ngày 18/11/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà N và xác định bà N không tham gia phần hụi nêu trên do ông B, bà N làm chủ hụi. Tại phiên tòa, bà N xác định bà đồng ý với quyết định của hai bản án nêu trên nên bà khởi kiện yêu cầu bà L, ông C trả số tiền này do bà L đã nhận tiền trực tiếp từ bà và ông C là chồng bà L nên phải cùng có trách nhiệm.

Đối với bà L, bà không kháng cáo bản án sơ thẩm số 99/2019/DS – ST ngày 27/8/2019 của Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi, sau khi xét xử phúc thẩm bà cũng không có yêu cầu gì nên xác định bà đã đồng ý với quyết định của bản án nêu trên. Tại phiên tòa bà L đồng ý trả số tiền 70.000.000 đồng cho bà N, đối với số tiền mà bà gom hụi của bà N và giao cho ông B nhận thì bà sẽ khởi kiện yêu cầu ông B, bà N trả cho bà khi bà có điều kiện. Đồng thời bà xác định ông C có biết các giao dịch hụi của bà và các giao dịch hụi đều nhằm mục đích phục vụ cho cuộc sống gia đình.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn buộc bà L, ông C có nghĩa vụ liên đới trả cho nguyên đơn số tiền hụi là: 70.000.000 đồng.

Về án phí dân sự sơ thẩm:

Theo khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì bà L, ông C phải chịu là: 3.500.000 đồng (70.000.000 đồng x 5%).

Bà N không phải chịu, đã dự nộp được nhận lại.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 244, khoản 3 Điều 228, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 471 Bộ luật Dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Quách Cẩm N. Buộc bà Cao Thị L, ông Trần Văn C có nghĩa vụ liên đới trả cho bà N số tiền là: 70.000.000 đồng (bảy mươi triệu đồng).

Kể từ ngày bà N có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bà L, ông C chậm thi hành khoản tiền trên thì hàng tháng bà L, ông C còn phải chịu thêm khoản lãi suất chậm thi hành theo mức lãi suất chậm thực hiện nghĩa vụ được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự tương ứng số tiền và thời gian chậm thi hành.

2. Án phí dân sự sơ thẩm:

Bà Cao Thị L, ông Trần Văn C phải chịu 3.500.000 đồng (ba triệu năm trăm nghìn đồng) (chưa nộp).

Bà Quách Cẩm N không phải chịu, hoàn trả lại cho bà N 938.000 đồng (chín trăm ba mươi tám nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0011526 ngày 11 tháng 11 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi.

3. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

4. Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đối với đương sự vắng mặt thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Cỡ chữ