vanban.org

Bản án 105/2020/HSST — Hình sự

TAND huyện Thanh Trì, TP. Hà Nội Tuyên án 30/06/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Nguyễn Văn H phạm tội "Cướp giật tài sản" và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Xử phạt: phạt Nguyễn Văn H 42 (bốn hai) tháng tù về tội “Cướp giật tài sản” và 14 (mười bốn) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt chung của hai tội buộc bị cáo phải chấp hành là 56 (năm sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 16/12/2019. Về vật chứng: áp dụng Điều 106… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Cướp giật tài sản và tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 20…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Nguyễn Văn H phạm tội "Cướp giật tài sản" và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Bộ luật Tố tụng hình sự; Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THANH TRÌ
TP HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

------------
Bản án số: 105/2020/HSST
Ngày: 30/6/2020
NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ, TP HÀ NỘI

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đỗ Thị Mai Thu

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trương Văn Minh

Ông Nguyễn Đình Thọ

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Đặng Mai Hoa - Cán bộ Toà án nhân dân huyện Thanh trì, TP Hà Nội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Sơn Cầm - Kiểm sát viên sơ cấp

Ngày 30 tháng 6 năm 2020 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thanh Trì xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 117/2020/HSST ngày 10/6/2020 đối với bị cáo:

Họ và tên: NGUYỄN VĂN H - Sinh ngày 13/7/1985 tại Hưng Yên

Nơi ĐKHKTT: thôn M, xã T, huyện K, tỉnh Hưng Yên

Nơi ở: không nơi cư trú nhất định

Quốc tịch: Việt Nam

Dân tộc: Kinh

Tôn giáo: Không

Nghề nghiệp: Lao động tự do

Trình độ văn hoá: 5/12

Con ông: Nguyễn Văn T

Con bà: Nguyễn Thị N

Có vợ là Lô Thị S (đã ly hôn) và có 01 con sinh năm 2007

- TATS: không

(Danh chỉ bản số 30 do công an huyện T lập ngày 19/12/2019)

Bắt khẩn cấp và tạm giữ ngày 16/12/2019, tạm giam ngày 25/12/2019.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa

- Người bị hại: Anh Nguyễn Văn H - SN 1996 (Vắng mặt)

ĐKHKTT: đội 4, thôn A, xã H, huyện M, TP Hà Nội.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án:

Anh Lê Anh T - SN 1992 (Vắng mặt)

ĐKHKTT: tổ 1, phường V, Thành phố V, tỉnh Phú Thọ

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15h30’ ngày 16/12/2019, Nguyễn Văn H sử dụng số điện thoại 0563956667 gọi điện cho anh Lê Anh T để đặt mua 02 bộ điều hòa lG 12000BTU của anh T với giá 4.300.000 đồng/bộ và hẹn giao hàng tại số 2, đường N, huyện T, Hà Nội. Anh T giao cho nhân viên giao hàng là anh Nguyễn Văn H chở hàng đến địa chỉ trên. Do nghi ngờ người đặt mua điều hòa nên anh T cũng đi đến địa chỉ trên và gặp anh H, anh H nói khách hàng thay đổi địa điểm giao điều hòa và hẹn xuống cầu V nên anh T đi cùng anh H đến quán nước cầu V ngồi đợi khách. Anh T bảo anh Hy giao dịch với khách, còn anh T đứng cách vị trí của anh H khoảng 10m.

Khoảng 18h cùng ngày, H đi xe mô tô BKS 33K...-1336 đến chỗ anh H và bảo anh H đi theo H ra ngoài đê sông Hồng nhưng anh H không đồng ý nên H yêu cầu anh H chuyển 01 bộ điều hòa từ xe máy của anh H sang xe máy của H. Sau đó H tự cởi dây buộc điều hòa và chuyển cục nóng điều hòa LG từ xe máy của anh H sang xe của H. Anh H bảo H “tiền nong thanh toán thế nào” thì H nói “Mày cứ quấn dây vào xe rồi tao đưa tiền” nên anh H bê cục lạnh điều hòa LG để lên xe của H. Khi anh H đang lấy dây buộc điều hòa thì H lên xe nổ máy, phóng xe bỏ chạy về hướng Công an xã T. Anh H hô “Cướp cướp” và cùng anh T đuổi theo H. Lúc này Tổ Công tác Đội Điều tra hình sự - Công an huyện T đang làm nhiệm vụ tại khu vực xã T phát hiện và truy đuổi H. Khi H đi đến đoạn cổng làng thôn C, xã T, huyện T, Hà Nội thì bị bắt quả tang thu giữ cùng vật chứng gồm: 01 cục nóng điều hòa LG 12000 BTU model S09 ENA (VS-C096W4A1); 01 cục lạnh điều hòa LG 12000 BTU model S12 ENA (VS-C126B4A0); 01 xe mô tô BKS 33...-1336; 01 điện thoại nhãn hiệu Wiko Vieww Max màu đen trong có 02 sim, số 0563956667 và 0923983938.

Hồi 19h30’ cùng ngày, tại Công an huyện T, qua kiểm tra hành chính Cơ quan Điều tra phát hiện và thu giữ tại túi quần bò phía trước bên phải của H 01 gói giấy bạc bên trong có chứa chất bột màu trắng. H khai là heroin H tàng trữ để sử dụng. Tại phiếu xét xét nghiệm ma túy trong cơ thể H thể hiện dương tính với ma túy.

Tại bản Kết luận giám định số 8114/KLGĐ-PC09 ngày 23/12/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an TP Hà Nội kết luận: chất bột màu trắng bên trong gói giấy là ma túy loại Heroin có khối lượng là 0,112gam.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 746/KLGĐ ngày 23/12/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T kết luận: 01 bộ điều hòa hiệu LG 12.000 BTU có giá trị là 4.300.000 đồng.

Quá trình điều tra, H không thừa nhận hành vi gọi điện cho anh T để đặt mua điều hòa mà do một người không quen biết thuê H chở điều hòa từ khu vực cây xăng cầu V đến khu vực đê sông Hồng với giá 500.000 đồng. Người này đưa cho H 01 sim điện thoại số 0563956667 lắp vào điện thoại của H và nhắn tin cho người bán điều hòa hẹn địa điểm giao nhận hàng là số 2 đường N, sau đó người này đi đâu H không biết. H chỉ thừa nhận hành vi chuyển điều hòa từ xe anh H sang xe H rồi sau đó nhanh chóng bỏ đi. Đối với gói ma túy bị thu giữ, H khai nhận: khoảng 16h ngày 16/12/2019, H đi xe máy BKS 33K6-1336 đến khu vực bên ngoài bến xe G, quận H, Hà Nội tìm mua ma túy để sử dụng. H đã mua của một người đàn ông không quen biết 01 gói heroin với giá 200.000 đồng và cất gói ma túy trong túi quần bò phía trước bên phải H đang mặc, chưa kịp sử dụng thì bị bắt. Đối với người đàn ông bán ma túy cho H, H không biết tên tuổi địa chỉ, Cơ quan Điều tra không xác định được người này nên không có căn cứ để xác minh làm rõ.

Anh H đã nhận lại 01 bộ điều hòa nhãn hiệu LG 12.000 BTU và không yêu cầu gì.

Đối với 01 điện thoại nhãn hiệu Wiko Vieww Max màu đen trong có 02 sim, số 0563956667 và 0923983938: H dùng để liên lạc mua điều hòa và hẹn địa điểm giao điều hòa với anh T, anh H nên cần tiếp tục tạm giữ để giải quyết theo quy định.

Đối với chiếc xe mô tô Honda kiểu dáng Wave BKS 33K6-1336 Hưng sử dụng để cướp giật tài sản của anh H, quá trình điều tra xác định chiếc xe này là vật chứng trong vụ việc có dấu hiệu lừa đảo chiếm đoạt tài sản xảy ra ngày 13/9/2019 do Công an huyện T2 đang thụ lý nên Cơ quan Điều tra - Công an huyện T đã bàn giao cho Công an huyện T2 giải quyết theo thẩm quyền.

Trong quá trình điều tra, ngày 17/12/2019, anh Nguyễn Văn N (SN 1973, trú tại: xã M, huyện Đ, tỉnh Thái Bình) trình báo về việc: ngày 23/11/2019, Nguyễn Văn H gọi điện cho anh N để hỏi mua 02 bộ điều hòa Daikin 12.000 BTU và hẹn giao hàng tại cổng Khu Công nghiệp N thuộc xã N, huyện T, Hà Nội. Khoảng 11h30’, cùng ngày, anh N đến nơi hẹn thì thấy H đi cùng một nam thanh niên (chưa xác định được tên tuổi địa chỉ) đến lấy điều hòa. Tại đây, H bảo anh N để lại 01 bộ điều hòa và chở 01 bộ điều hòa còn lại lên hướng bến xe N. Khi đi đến đoạn đường gần Ban chỉ huy quân sự huyện T, H bảo anh N đứng đợi để H đi rút tiền nhưng nhưng sau đó H bỏ đi và không liên lạc được. Anh N quay lại chỗ giao điều hòa ở Khu Công nghiệp N thì phát hiện mất 01 bộ điều hòa đã để lại cho nam thanh niên đi cùng H trước đó. Cùng ngày 17/12/2019, anh Kiều Thanh T (SN 1991, trú tại: ngõ 63 phố L, phường M, quận N, Hà Nội) trình báo: ngày 13/12/2019, Nguyễn Văn H liên lạc với anh T để hỏi mua 01 bộ điều hòa nhãn hiệu Mitshubishi 12.000 BTU và 01 bộ điều hòa Electro 12.000 BTU và hẹn giao hàng tại địa chỉ đối diện số 51 đường N, thị trấn V, huyện T, Hà Nội. Khi đến chỗ giao hàng, H yêu cầu anh T để 01 bộ điều hòa Mitshubishi cho H chở, còn 01 bộ điều hòa Electro H bảo anh T chở đến HH4 khu chung cư L rồi trả tiền luôn. Khi anh T đi đến khu chung cư L và gọi điện cho H thì không liên lạc được. Anh N, anh T đều nhận dạng được H là người đã chiếm đoạt tài sản của hai anh nhưng H không thừa nhận hành vi như anh N, anh T đã khai. Cơ quan Điều tra đề nghị anh N, anh T đối chất với H nhưng hai anh đều từ chối. Cơ quan Điều tra đã tiến hành dẫn giải và anh N, anh T đã chỉ địa điểm bị H chiếm đoạt tài sản, tiến hành rà soát camera, nhân chứng nhưng cho đến nay chưa xác định được nhân chứng chứng kiến sự việc. Hết thời hạn điều tra, do chưa đủ tài liệu, chứng cứ chứng minh H đã chiếm đoạt 02 bộ điều hòa của anh N, anh T nên Cơ quan Điều tra đã ra quyết định tách phần tài liệu liên quan để tiếp tục điều tra, xác minh, xử lý sau.

Tại bản cáo trạng số 100/CT-VKS ngày 09/6/2020, VKSND huyện Thanh Trì truy tố Nguyễn Văn H về tội "Cướp giật tài sản" theo điểm d khoản 2 Điều 171 và tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 Điều 249 - BLHS 2015.

Tại phiên toà: Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi của mình như đã khai tại cơ quan điều tra, thừa nhận cáo trạng truy tố đúng hành vi bị cáo đã thực hiện. Bị cáo tỏ ra ăn năn hối hận và đề nghị Tòa xem xét, giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện VKSND huyện Thanh Trì giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị:

- Xử phạt Nguyễn Văn H từ 42 tháng tù đến 48 tháng tù về cướp giật tài sản và từ 14 tháng tù đến 20 tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy ; tổng hợp hình phạt hai tội bị cáo phải chấp hành từ 56 tháng tù đến 68 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 16/12/2019

Về vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy 01 gói Heroin có khối lượng 0,112 gam (cơ quan giám định đã trích 0,014 gam; còn lại 0,098 gam)

- Tịch thu phát mại sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại nhãn hiệu Wiko Vieww Max màu đen trong có 02 sim, số 0563956667 và 0923983938 đã thu giữ của bị cáo.

Về dân sự: người bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an huyện Thanh Trì, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Khoảng 18h ngày 16/12/2019, tại khu vực cây xăng gần cầu V thuộc xã T, huyện T, TP Hà Nội, Nguyễn Văn H đã có hành vi dùng xe mô tô Honda kiểu dáng Wave BKS 33K6-1336 cướp giật 01 bộ điều hòa nhãn hiệu LG 12.000 BTU có trị giá 4.300.000 đồng của anh Nguyễn Văn H rồi bỏ chạy đến khu vực cổng làng thôn C thuộc xã T, huyện T, TP Hà Nội thì bị Cơ quan Công an bắt quả tang thu giữ cùng vật chứng. Hành vi này của H đã phạm vào tội "Cướp giật tài sản" được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 - BLHS với tình tiết dùng thủ đoạn nguy hiểm.

Hồi 19h30’ cùng ngày, tại Công an huyện T, khi Nguyễn Văn H đang tàng trữ trái phép 01 gói ma túy loại Heroin có khối lượng 0,112 gam tại túi quần phía trước bên phải của H với mục đích để sử dụng thì bị Cơ quan Điều tra - Công an huyện T phát hiện thu giữ cùng vật chứng. Hành vi này của H đã phạm vào tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 - BLHS với tình tiết tàng trữ heroin có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam.

Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì truy tố bị cáo theo các tội danh và điều khoản như đã viện dẫn ở trên là có căn cứ pháp lý. Hành vi cướp giật tài sản của bị cáo đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an xã hội; hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước; do vậy, cần thiết phải xử lý bị cáo bằng pháp luật hình sự để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Tuy bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng cùng một lúc phạm nhiều tội, do đó xử lý nghiêm bị cáo để răn đe và phòng ngừa chung. Bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ: chưa tiền án tiền sự, phạm tội lần đầu; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tài sản đã thu hồi trả người bị hại - đây là các tình tiết giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo

Đối với người đàn ông bán ma túy cho H, do không xác định được lý lịch nhân thân người đàn ông này nên Cơ quan Điều tra không có căn cứ để xác minh làm rõ.

Anh Nguyễn Văn N và anh Kiều Thanh T trình báo H đã có hành vi chiếm đoạt 02 bộ điều hòa của các anh trong các ngày 23/11/2019 và 13/12/2019, tuy nhiên do chưa đủ tài liệu, chứng cứ để chứng minh H đã chiếm đoạt tài sản của anh N, anh T nên Cơ quan Điều tra đã ra quyết định tách phần tài liệu liên quan để tiếp tục điều tra, xác minh, xử lý sau là có căn cứ.

Về dân sự: người bị hại đã nhận lại tài sản, các bên không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về vật chứng:

- Đối với vật chứng là 01 gói Heroin có khối lượng 0,112 gam là chất độc hại Nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy

- Đối với 01 điện thoại nhãn hiệu Wiko Vieww Max màu đen trong có 02 sim đã thu giữ của bị cáo: đây là vật chứng bị cáo dùng để phạm tội nên tịch thu phát mại sung quỹ Nhà nước

- Đối với chiếc xe mô tô Honda kiểu dáng Wave BKS 33K6-1336 bị cáo đã sử dụng để cướp giật tài sản của anh H, quá trình điều tra xác định chiếc xe này là vật chứng trong vụ việc có dấu hiệu tội phạm xảy ra ngày 13/9/2019 do Công an huyện T2 đang thụ lý nên Cơ quan Điều tra - Công an huyện T đã bàn giao cho Công an huyện T2 giải quyết theo thẩm quyền là có căn cứ.

Về án phí: bị cáo phải chịu án phí theo quy định tại Điều 136 - BLTTHS 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án

Về quyền kháng cáo: bị cáo, người bị hại, người liên quan có quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 331, 333 - BLTTHS 2015.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Nguyễn Văn H phạm tội "Cướp giật tài sản" và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171; điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; khoản 1 Điều 55 - BLHS 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017

Xử phạt: phạt Nguyễn Văn H 42 (bốn hai) tháng tù về tội “Cướp giật tài sản” và 14 (mười bốn) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt chung của hai tội buộc bị cáo phải chấp hành là 56 (năm sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 16/12/2019.

Về vật chứng: áp dụng Điều 106 - BLTTHS 2015:

- Tịch thu tiêu hủy 01 gói Heroin có khối lượng 0,112 gam (cơ quan giám định đã trích 0,014 gam; còn lại 0,098 gam)

- Tịch thu phát mại sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại nhãn hiệu Wiko Vieww Max màu đen có số IMEI 1 là 357729091260359 và IMEI 2 là 357729091360357; trong có 02 sim: số 0563956667 có IMEI 8984050919-1222258558 và số 0923983938 có IMEI 8984050918-1030009416 đã thu giữ của bị cáo.

(đã chuyển Cơ quan Thi hành án dân sự huyện T tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 24/6/2020)

Về án phí: áp dụng Điều 136 - BLTTHS 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí HSST

Về quyền kháng cáo: áp dụng các Điều 331, 333 - BLTTHS 2015

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Anh Nguyễn Văn H có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết.

Anh Lê Anh T có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết.

Về việc thi hành án: áp dụng Điều 26 - Luật thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định của tòa án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ