vanban.org

Bản án 105/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Danh mục án phí và lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết.

2, Về con chung: Chị Nguyễn Thị Ng và anh Nguyễn Duy Tr có 01 con chung là Nguyễn Ngọc B, sinh ngày 23 tháng 10 năm 2015. Ghi nhận sự thoả thuận của chị Ng và anh Tr để chị Ng tiếp tục nuôi dưỡng con chung; hai bên tự giải quyết với nhau về cấp dưỡng nuôi con chung đến khi con thành niên hoặc có quy… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Danh mục án phí và lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết.
  • Căn cứ chính? Điều 220 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN Đ
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 105/2020/HNGĐ-ST.
Ngày: 09-03-2020.
Về việc:“Tranh chấp ly hôn,
nuôi con chung”.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ - THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Lân.

- Các Hội thẩm nhân dân: 1, Ông Dương Xuân Đính.

2, Ông Lê Thế Chuyên.

Thƣ ký phiên tòa: Bà Ngyễn Hải Yến - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đ, thành phố Hà Nội. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Vân - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 03 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đ, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 612/2019/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 12 năm 2019, về việc: “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2020/QĐXX-ST ngày 17 tháng 02 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên toà số 05/2020/QĐHPT-ST ngày 28 tháng 02 năm 2020, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Ng, sinh năm 1986; Nơi thường trú tại: Tổ 28, thị trấn Đ, huyện Đ, thành phố Hà Nội; Chỗ ở: Thôn C, xã H, huyện Đ, thành phố Hà Nội. Có mặt tại phiên toà.

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Duy Tr, sinh năm 1984; trú tại: Tổ 28, thị trấn Đ, huyện Đ, thành phố Hà Nội. Vắng mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khở i kiê ̣n ly hôn ghi ngày 23 tháng 07 năm 2019 và quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án, nguyên đơn trong vu ̣ án lachị Nguyễn Thị Ng trình bàỳ

:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Duy Tr xây dựng gia đình với nhau năm 2014, trên cơ sở tự nguyện, được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân thị trấn Đ ngày 23 tháng 12 năm 2014. Cưới xong, vợ chồng ở chung nhà với bố mẹ đẻ anh Tr tại Tổ 28, thị trấn Đ, huyện Đ, thành phố Hà Nội. Quá trình chung sống, vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc không có vấn đề gì. Chỉ từ đầu năm 2016 vợ chồng mới phát sinh mâu thuẫn và ngày càng căng thẳng. Chị đã đã chuyển về nhà bố mẹ đẻ chị ở thôn C, xã H, huyện Đ, thành phố Hà Nội, sống ly thân với anh Tr từ tháng 05 năm 2019 đến nay. Theo chị, nguyên nhân chính là do vợ chồng không hợp nhau về tính cách và quan điểm sống dẫn đến vợ chồng không có sự tôn trọng nhau, thường xuyên va chạm, mâu thuẫn. Mặt khác, quan hệ giữa chị và bố mẹ anh Tr không được tốt. Khi mâu thuẫn vợ chồng xảy ra, chị cũng đã tạo điều kiện cho anh Tr để cải thiện tình cảm vợ chồng nhưng không thay đổi được gì; Hai gia đình và chính quyền địa phương cũng đã hoà giải, dàn xếp cho chị và anh Tr nhưng không có kết quả, do tình cảm vợ chồng đối với nhau lạnh nhạt, không còn gì. Chị xác định hôn nhân của vợ chồng không hạnh phúc và xin được ly hôn anh Tr.

- Về con chung: Chị và anh Tr có 01 con chung là Nguyễn Ngọc B sinh ngày 23 tháng 10 năm 2015, cháu khoẻ mạnh bình thường và đang do chị trực tiếp nuôi dưỡng. Khi ly hôn, chị tiếp tục nuôi dưỡng con chung và tự thoả thuận với anh Tr về việc cấp dưỡng nuôi con, không yêu cầu Toà án giải quyết. Hiện nay, chị đang làm điều dưỡng viên tại Bệnh viện đa khoa Đ, thu nhập bình quân khoảng 10 triệu đồng/tháng, đảm bảo để chị nuôi con.

- Về tài sản chung: Chị và anh Tr tự thoả thuận giải quyết với nhau về tài sản chung nên chị không kê khai, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tại lời khai ngày 27 tháng 12 năm 2019, bị đơn trong vụ án là anh Nguyễn Duy Tr trình bày: Anh thống nhất với chị Ng khai về thời gian, điều kiện kết hôn, thời gian mâu thuẫn, tình trạng hôn nhân của vợ chồng hiện nay. Anh xác định trong thời gian chung sống, giữa anh và chị Ng có xảy ra mâu thuẫn nhưng không đáng kể, chị Ng tạo ra sự căng thẳng trong quan hệ vợ chồng. Tháng 04 năm 2019, chị Ng đã tự ý mang con về nhà bố mẹ chị ở không quay lại chung sống với anh, mặc dù anh đã khuyên can, động viên chị quay lại chung sống với anh để vợ chồng cùng nhau nuôi dạy con chung nhưng chị Ng không chấp nhận. Việc chị Ng xin ly hôn, anh không đồng ý và mong muốn vợ chồng đoàn tụ.

- Về con chung: Anh nhất trí với chị Ng khai về con chung của vợ chồng. Trường hợp ly hôn, anh đồng ý để chị Ng tiếp tục nuôi dưỡng con chung và hai bên tự thoả thuận với nhau về việc cấp dưỡng, không yêu cầu Toà án giải quyết.

- Về tài sản chung: Anh nhất trí với quan điểm của chị Ng để hai bên tự thoả thuận giải quyết với nhau về tài sản mà không yêu cầu Tòa án xem xét. Tại phiên toà, nguyên đơn trong vụ án là chị Nguyễn Thị Ng vẫn giữ nguyên lời khai và quan điểm của mình như đã nêu trên. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, thành phố Hà Nội phát biểu ý kiến:

- Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký Tòa án đã thực hiện hoàn toàn đầy đủ, đúng với các qui định của pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết và xét xử vụ án.

- Nguyên đơn trong vụ án đã chấp hành đầy đủ các Thông báo, Quyết định tố tụng của Toà án, các qui định của pháp luật tố tụng dân sự; Bị đơn trong vụ án chưa chấp hành đầy đủ các Thông báo, Quyết định tố tụng của Toà án, các qui định của pháp luật tố tụng dân sự, vắng mặt tại phiên toà lần thứ hai không có lý do.

Đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Các Điều: 28, 220, 227, 228, 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự:

- Chấp nhận Đơn khởi kiện xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Ng đối với anh Nguyễn Duy Tr.

- Về con chung: Chị Ng tiếp tục nuôi dưỡng con chung là cháu Nguyễn Ngọc B, sinh ngày 23 tháng 10 năm 2015; Hai bên tự thoả thuận giải quyết về cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung: Không phải giải quyết.

- Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Ng phải chịu án phí không giá ngạch.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ, vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về tố tụng: Quá trình Toà án giải quyết vụ án, bị đơn trong vụ án là anh Nguyễn Duy Tr vắng mặt tại phiên hoà giải và các phiên toà mặc dù đã được Toà án tống đạt, triệu tập hợp lệ. Hội đồng xét xử căn cứ vào quy định tại khoản 2 Điều 227, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự quyết định đưa vụ án ra xét xử và giành quyền kháng cáo cho các đương sự theo quy định của pháp luật.

. Về nội dung:

. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Ng và anh Nguyễn Duy Tr xây dựng gia đình với nhau năm 2014, trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Đ, huyện Đ, thành phố Hà Nội ngày 23 tháng 12 năm 2014, hôn nhân đó là hợp pháp. Sau khi cưới, chị Ng về làm dâu và ở chung cùng bố mẹ anh Tr tại Tổ 28, thị trấn Đ.

Anh chị chung sống hòa thuận, hạnh phúc đến đầu năm 2016 thì xảy ra mâu thuẫn vợ chồng và ngày càng căng thẳng, chị Ng đã đưa con về ở nhà bố mẹ đẻ chị tại thôn C, xã H, huyện Đ, thành phố Hà Nội sống ly thân với anh Tr từ tháng 04 năm 2019 đến nay, vợ chồng không có trách nhiệm và tình cảm với nhau trong cuộc sống.

Xét thấy, để có một cuộc hôn nhân hoà thuận, hạnh phúc phải dựa trên cơ sở của sự thương yêu, tôn trọng, tin tưởng và giúp đỡ lẫn nhau giữa vợ chồng. Đối với anh Tr và chị Ng thì không được như vậy, hôn nhân của anh chị mới được thời gian ngắn nhưng không được hòa thuận, hạnh phúc, hai người không hoà hợp với nhau về tính cách và quan điểm, dẫn đến mâu thuẫn ngày càng căng thẳng và sống ly thân, không còn tình cảm và trách nhiệm với nhau. Gia đình hai bên và chính quyền địa phương cũng đã hoà giải, dàn xếp cho anh chị nhưng không có kết quả, như vậy mục đích hôn nhân của anh chị không đạt được là xây dựng một gia đình hạnh phúc. Việc anh Tr không đồng ý ly hôn chị Ng nhưng anh không thể hiện sự chủ động trong cải thiện quan hệ tình cảm vợ chồng, thậm chí anh không tham gia phiên hoà giải, không đến phiên toà do Toà án triệu tập, cho thấy nguyện vọng xin đoàn tụ của anh là không thực tâm, nếu kéo dài hôn nhân giữa anh chị cũng không đảm bảo tồn tại lâu dài. Do đó, chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Ng đối với anh Tr là phù hợp với quy định tại Điều 51 và khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình. [2.2]. Về con chung: Chị Nguyễn Thị Ng và anh Nguyễn Duy Tr có 01 con chung là Nguyễn Ngọc B, sinh ngày 23 tháng 10 năm 2015, hiện đang do chị Ng trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc hàng ngày. Anh Tr và chị Ng thống nhất để chị Nga tiếp tục nuôi dưỡng cháu B và tự thoả thuận giải quyết với nhau về cấp dưỡng nuôi con chung khi vợ chồng ly hôn. Quan điểm đó của các đương sự là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với quy định tại các Điều 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình nên được ghi nhận. [2.3]. Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị Ng và anh Nguyễn Duy Tr cùng xác định hai bên tự thỏa thuận giải quyết với nhau về tài sản chung, nên Tòa án không xét. [2.4]. Về án phí: Chị Ng phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm để sung công quỹ Nhà nước. [2.5]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật. Vì những lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ:

- Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình;

- Khoản 1 Điều 28, Điều 220; khoản 2 Điều 227; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Danh mục án phí và lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết. Xử: 1, Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Ng. Chị Nguyễn Thị Ng được ly hôn anh Nguyễn Duy Tr.

2, Về con chung: Chị Nguyễn Thị Ng và anh Nguyễn Duy Tr có 01 con chung là Nguyễn Ngọc B, sinh ngày 23 tháng 10 năm 2015.

Ghi nhận sự thoả thuận của chị Ng và anh Tr để chị Ng tiếp tục nuôi dưỡng con chung; hai bên tự giải quyết với nhau về cấp dưỡng nuôi con chung đến khi con thành niên hoặc có quyết định khác của Toà án.

Anh Tr có quyền thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở.

3, Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị Ng và anh Nguyễn Duy Tr tự thỏa thuận giải quyết với nhau về tài sản chung, không yêu cầu Toà án giải quyết.

4, Về án phí dân sự sơ thẩm: 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng), chị Nguyễn Thị Ng phải chịu cả. Chị Ng đã nộp đủ 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2016/0015066 ngày 26 tháng 11 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đông Anh, nay được chuyển thành tiền án phí để sung công quỹ Nhà nước.

5, Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị Ng có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Anh Nguyễn Duy Tr có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ