vanban.org

Bản án 105/2019/HSST — Hình sự

TAND TP. Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 11/04/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tội chống người thi hành công vụ - phạm tội chống người thi hành công vụ (điều 330 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 330 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THANH HÓA
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:105/2019/HSST
Ngày: 11/4/2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT N

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HOÁ - TỈNH THANH HOÁ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Nguyệt;

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Đỗ Khắc Kiếm ;

2. Bà Mai Thị Tiếp ;

- Thư ký phiên toà: Bà Mai Thị Thu Trang - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hoá, tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện VKSND thành phố Thanh Hoá tham gia phiên toà:

Bà Lê Thị Kim Dung - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 4 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 117/2019/TLST-HS ngày 05 tháng 3 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:117/ 2019/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 3 năm 2019 đối với bị cáo:

Lê Anh Q( tên gọi khác T), sinh năm 1986, tại Thanh Hóa, Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: đường L, phường Đ, thành phố T; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 6/12; dân tộc: kinh; giới tính: N; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt N; con ông Lê Văn C và bà Lê Thị P; chưa có vợ .Tiền án: Ngày 19/01/2017 bị Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa xử phạt 27 tháng tù về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

Tiền sự: không; Nhân thân: Ngaỳ 24/6/2005 bị Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa xử phạt 36 tháng tù cho hưởng án treo về tội cố ý gây thương tích ( đã chấp hành xong bản án); Ngày 19/9/2007 bị TAND thành phố Thanh Hóa xử phạt 15 tháng tù về tội “ Trộm cắp tài sản” ( Trị giá tài sản 1.860.000 đồng). Tổng hợp với hình phạt 36 tháng tù của bản án số 115 ngày 24/6/2005 của TAND thành phố Thanh Hóa, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 51 tháng tù (đã chấp hành xong); Ngày 28/9/2010 bị TAND thành phố Thanh Hoá phạt 30 tháng tù về tội” mua bán trái phép chất ma túy” ( đã chấp hành xong bản án); Bị caó bị tạm giữ từ ngày 18/11/2018, tạm giam 23/11/2018. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ 45 phút ngày 18/11/2018, sau khi sử dụng ma túy đá Lê Anh Q đến nhà chị Hoàng Thị T sinh năm 1995, ở đường N, phường Đ, thành phố T ( là em con nhà dì ruột của Q) rồi chốt cửa lại khống chế, đe dọa chị T. Chị T gọi điện báo người nhà và hàng xóm đến phá khóa cửa, vào nhà và yêu cầu Q ra ngoài, nhưng Q không ra mà cầm gậy ngồi trong nhà vệ sinh, khi người nhà chị T xông vào nhà vệ sinh lôi Q ra thì Q vùng chạy sang nhà ông N ở đường N đối diện nhà chị T. Lúc này nhận được tin báo của quần chúng nhân dân, nên đội cảnh sát 113- Công an thành phố Thanh Hóa đã cử các đồng chí Phạm Hoàng Hà( tổ trưởng), Nguyễn Khải Toàn, Lê Đình Bách và Phạm Văn Tiệp ( tất cả đều mặc cảnh phục) đến xử lý vụ việc, khi tổ công tác của đội cảnh sát 113 đến nơi đã động viên, giải thích và yêu cầu Q về trụ sở làm việc, nhưng Q không chấp hành mà vẫn cố thủ trong nhà ông N, nên tổ công tác đã ập vào khống chế Q, thì bị Q chống trả bằng cách dùng chân đạp lá chắn bảo vệ, giật lấy gậy của cảnh sát 113, dùng gậy đánh đồng chí Phạm Văn Tiệp vào tay và các đồng chí trong tổ công tác, dùng Răng cắn vào chân trái và bắp tay phải của đồng chí Phạm Văn Tiệp, dùng chân đạp vào người đồng chí Nguyễn Khải Toàn, dùng tay cào cấu vào cổ đồng chí Lê Đình Bách, sau đó tổ công tác của đội cảnh sát 113 đã khống chế, bắt giữ được Lê Anh Q đưa về trụ sở công an phường Đ lập biên bản sự việc, nhưng do Q mới sử dụng ma túy đá và đang bị loạn thần nên không làm việc được.

Hậu quả các đồng chí Phạm Văn Tiệp, Nguyễn Khải Toàn. Lê Đình Bách bị thương và đến Bệnh xá của Công an tỉnh Thanh Hóa để sơ cứu và điều trị.

Tại biên bản xem xét dấu vết trên thân thể ngày 18, 19/11/2018 xác định đồng chí Lê Đình Bách bị 03 vết xây xước rớm máu tại vị trí cổ, sau gáy bên phải kích thước lần lượt là: ( 4 x 1)cm, ( 3x 1cm); ( 2x1cm);

Đồng chí Nguyễn Khải Toàn bị 02 vết xước tại mặt ngoài mu bàn tay trái có kích thước ( 2 x 1) cm, ( 1 x1) cm;

Đồng chí Phạm Văn Tiệp bị 01 vết thương xước da rớm máu, không rõ hình thù có kích thước ( 2 x3)cm tại vị trí bắp chân trái; 01 vết thương rách da bầm tím không rõ hình thù có kích thước khoảng ( 2 x3)cm tại vị trí mặt ngoài bắp trên tay phải; 01 vết bầm tím tại vị trí mặt ngoài cánh tay trái có kích thước khoảng ( 3x4) cm.

Các ngày 24,25,26/01/2019 các anh Lê Đình Bách, Nguyễn Khải Toàn, Phạm Văn Tiệp có đơn từ chối giám định thương tích và không có yêu cầu gì về bồi thường dân sự.

Tại biên bản xem xét dấu vết trên thân thể ngày 21/11/2018 đối với Lê Anh Q thể hiện: 01 vết thương rỉ máu tại đỉnh đầu có kích thước (1x2)cm; 01 vết thương rách da tại cung lông mày bên phải kích thước ( 1x1)cm. Quá trình điều tra xác định những vết thương này là do người nhà của chị T phá cửa xông vào giải thoát cho chị T có va chạm với Q. Bản thân Q không có đề nghị hay yêu cầu gì về thương tích này.

Tại bản cáo trạng số 103/ CT –VKS- TPTH ngày 05/3/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hoá truy tố bị cáo Lê Anh Q ( Tú) về tội “ Chống người thi hành công vụ” theo quy định tại khoản 1 Điều 330 BLHS.

Trong phần luận tội đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo như bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ: Khoản 1 Điều 330; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 BLHS năm 2015 sửa đổi năm 2017, đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo từ 18 tháng đến 24 tháng tù.

Buộc bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định pháp luật.

Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội và không có ý kiến tranh luận, lời nói sau cùng bị cáo đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân : Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội cụ thể: Khoảng 17 giờ ngày 18/11/2018 sau khi sử dụng má túy đá, Q đi bộ đến nhà nhà dì ruột Q ở số nhà đường N, phường Đ, thành phố T thì gặp T con nhà dì ruột của Q. Q bắt T ngồi im không được đi đâu cả. T gọi điện cho bà M ( dì của Q) đến, bà M yêu cầu Q ra khỏi nhà thì bị Q khống chế xô bà M ra khỏi nhà đồng thời chốt cửa lại. Sau đó mọi người đến phá khóa cửa và yêu cầu Q ra ngoài, nhưng Q không ra mà cầm gậy ngồi trong nhà vệ sinh. Khi mọi người xông vào nhà vệ sinh lôi Q ra, thì Q vùng chạy sang nhà hàng xóm đối điện nhà chị T. Lúc này cảnh sát 113- Công an thành phố Thanh Hóa có mặt và yêu cầu Q về trụ sở làm việc nhưng Q không chấp hành mà chống trả bằng cách dùng chân đạp lá chắn bảo vệ, giật gậy cao su của cảnh sát 113, dùng gậy đánh đồng chí Phạm Văn Tiệp vào tay và các đồng chí trong tổ công tác, dùng Răng cắn vào chân trái và bắp tay phải của đồng chí Phạm Văn Tiệp, dùng chân đạp vào người đồng chí Nguyễn Khải Toàn, dùng tay cào cấu vào cổ đồng chí Lê Đình Bách, sau đó tổ công tác của đội cảnh sát 113 đã khống chế, bắt giữ được Q đưa về trụ sở công an phường Đông Hương lập biên bản sự việc

[3 ] Lời khai nhận của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của người người làm chứng, tang vật và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi nêu trên của bị cáo Lê Anh Q có đủ dấu hiệu cấu thành tội “ Chống người thi hành công vụ ”, tội danh và khung hình phạt được qui định tại khoản 1 Điều 330 của BLHS năm 2015 sửa đổi năm 2017. Vì vậy VKSND thành phố Thanh Hóa truy tố bị cáo, cơ quan điều tra khởi tố bị cáo về hành vi phạm tội và tội danh nêu trên là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

. Hµnh vi ph¹m téi nªu trªn cña bÞ cáo lµ nguy hiÓm cho x· héi, ®· cản trở đến việc thực thi công vụ của nhân viên cơ quan nhà nước, trực tiếp xâm phạm đến hoạt động bình thường đúng đắn của các cơ quan nhà nước, làm giảm hiệu lực quản lý của nhà nước, g©y ¶nh h ëng xÊu ®Õn trËt tù trÞ công cộng, vì vậy cần phải xử lý nghiêm mới có tính giáo dục và phòng ngừa.

. Bị cáo có nhân thân xấu đã nhiều lần bị kết án nhưng không chịu rèn luyện tu dưỡng bản thân. Ngày 19/01/2017 bị cáo bị TAND thành phố Thanh Hóa xử 27 tháng về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” chưa được xóa ná tích nay lại tiếp tục phạm tội vì vậy làn phạm tội này bị cáo bị coi là tái phạm đây là tình tiết tăng nặng theo điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS.

. Tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo trong quá trình điều tra, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo ( điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS).

. Căn cứ vào nhân thân, tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, thì việc cách ly bị cáo ra khỏi cộng đồng xã hội một thời gian là cần thiết, như vậy mới có tác dụng giáo dục đối với bị cáo và có tính chất phòng ngừa chung.

. Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định tại khoản 2 Điều 136 BLTTHS và điểm a khoản 1 Điều 23, Điều 26 Nghị quyết 326/2016 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14.

Vì các lẽ trên;

[ [ơQUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 330; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 BLHS 2015 sửa đổi năm 2017; khoản 2 Điều 136 BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14.

Tuyên bố: Bị cáo Lê Anh Q ( Tú) phạm tội “Chống người thi hành công vụ”.

Xử phạt: Lê Anh Q 18 ( Mười tám ) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày 18/11/2018.

Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí HSST.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, bị cáo có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án khoản tiền án phí theo quy định tại Điều 7,9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ