- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị Bích V: Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Bích V phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 52 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH THỪA THIÊN HUẾ Bản án số: 105/2019/HSST Ngày: 31/5/2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Thái Thị Hồng Vân.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Võ Phi Hùng
2. Bà Đoàn Thị Thanh Nhàn
- Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thị Huyền Trang - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế tham gia phiên toà: Ông Trần Văn Cảm- Kiểm sát viên.
Trong ngày 31 tháng 5 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 92/2019/TLST-HS ngày 23 tháng 4 năm 2019, đối với bị cáo:
Nguyễn Thị Bích V, tên gọi khác: không; sinh ngày 17 tháng 08 năm 1970; tại thành phố Đà Nẵng; nơi cư trú: Tổ 14, phường H, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá: 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn N và bà Phạm Thị B (đã chết); chưa có chồng; Có 1 con: sinh năm 2001
Quá trình nhân thân: Sinh ra và lớn lên tại thành phố Đà Nẵng, học hết lớp 01/12 thì nghỉ học, ở nhà, không có nghề nghiệp.
Năm 1994 bị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”
Ngày 17/12/2007, bị Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng xử phạt 12 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng, về tội “Trộm cắp tài sản”
Ngày 07/9/2017, bị Tòa án nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An, xử phạt 01 năm 03 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số: 71/2017/HSST) ngày 24/6/2018 chấp hành xong hình phạt tù.
Tiền án: có 01 tiền án;
Tiền sự: Không
Tạm giam từ ngày 13/01/2019, có mặt.
- Bị hại:
1. Chị Lê Thị Hải A, sinh năm: 1978; địa chỉ: số 03 P, thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt.
2. Chị Nguyễn Thị Thùy D, sinh ngày: 1983; địa chỉ: 137 Đ, phường P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; vắng mặt.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. Anh Nguyễn Văn T, sinh năm: 1972; địa chỉ: Tổ 3, phường A, quận S, thành phố Đà Nẵng, vắng mặt.
2. Anh Cao Hữu H, sinh năm : 1984; địa chỉ: Đội 6, xã Đ, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
* Lần thứ nhất: Vào trưa ngày 12/01/2019, Nguyễn Thị Bích V điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Daehan, biển số 75K1-2449 đến tại cửa hàng mua bán áo quần cũ ở 206 P, phường T, thành phố H. Tại đây, khi V đang xem áo quần để mua thì nhìn thấy chị Nguyễn Thị Thùy D, sinh năm 1989; trú tại 137 Đ, phường P, thành phố H đang thử áo quần, để túi xách trên sạp áp quần, không để ý đến tài sản. V lén lút kéo dây khóa, mở túy xách lục, lấy trộm một ví da đỏ màu đỏ đô, kích thước (12 x 9,5)cm bên trong có các giấy tờ tùy thân của chị Nguyễn Thị Thùy D, rồi nhanh chóng tẩu thoát.
* Vật chứng đã thu giữ gồm:
- Một giấy chứng minh nhân dân; một giấy phép lái xe; một giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô; một thẻ bảo hiểm y tế, tất cả đều mang tên Nguyễn Thị Thùy D.
Đối với ví da nữ màu đỏ đô, kích thước 12 x 9,5 cm, Nguyễn Thị Bích V đã để thất lạc không thu giữ được.
Tại bản kết luận giám định giá trị tài sản số 67 ngày 14/01/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Huế (định giá qua hồ sơ) xác định: Tại thời điểm bị chiếm đoạt, một chiếc ví da màu đỏ đô, kích thước (12 x 9,5)cm, có trị giá 50.000 đồng (Năm mươi nghìn đồng)
*Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự:
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Huế đã trả lại toàn bộ giấy tờ tùy thân đã thu giữ cho người bị hại Nguyễn Thị Thùy D. Chị D không yêu cầu Nguyễn Thị Bích V phải bồi thường cho mình giá trị chiếc ví da, đồng thời có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho chị V.
*Lần thứ hai: Ngay sau khi thực hiện vụ trộm thứ nhất, V tiếp tục điều khiển xe mô tô đến tiệm may Túy ở 42 N, phường P, thành phố H để may áo. Sau khi lấy số đo, V thấy chị Lê Thị Hải A (sinh năm 1978; trú tại 03 P, thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị) đi cùng bạn đến may áo quần. Thấy chị A để túi xách bằng vải trên tủ lạnh của tiệm may nên nảy sinh ý định trộm cắp. Nhân lúc không ai để ý, V lén lút thò tay vào túy xách, lấy trộm một cái ví, bên trong có 6.000.000 đồng và nhiều giấy tờ tùy thân của vợ chồng chị A rồi ra xe, nổ máy tẩu thoát về nhà.
- 2 -
* Vật chứng thu giữ:
- Một ví nữ bằng vải, màu kem, kích thước (16 x 8,5)cm
- Tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: 6.000.000 đồng
- Một giấy phép lái xe hạng A1, một giấy phép lái xe hạng B2, hai thẻ ATM Ngân hàng Agribank, một thẻ ATM Ngân hàng BIDV, một giấy chứng minh nhân dân, tất cả đều mang tên Lê Thị Hải A;
- Một thẻ ATM Ngân hàng Vietcombank, một thẻ ATM Ngân hàng Agribank, đều mang tên Nguyễn Phong T;
- Một chiếc xe mô tô nhãn hiệu Daehan, màu xanh, biển số 75K1-2449;
- Một xấp vải xoan cát, có hoa văn, màu đen-trắng-đà, kích thước khoảng (90 x 150)cm
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 67 ngày 14/01/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Huế xác định: Tại thời điểm bị chiếm đoạt, một chiếc ví nữ bằng vải, màu kem, kích thước (16 x 8,5)cm, có giá trị : 90.000 đồng (Chín mươi nghìn đồng)
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Bích V phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
p dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Bích V từ 1 năm 3 tháng đến 1 năm sáu tháng tù.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị Bích V khai nhận, ngày 12/01/2019, tại cửa hàng mua bán áo quần cũ ở 206 P, phường T, thành phố H, Nguyễn Thị Bích V đã trộm cắp của chị Nguyễn Thị Thùy D 01 ví da màu đỏ đô, kích thước (12 x9,5)cm. Theo kết luận của Hội đồng định giá, chiếc ví có giá trị 50.000 đồng. Ngày 12/01/2019, tại tiệm may Túy ở 42 N, phường P, thành phố H, Nguyễn Thị Bích V đã trộm cắp của chị Lê Thị Hải A lấy trộm 01 cái ví, bên trong có 6.000.000 đồng và các giấy tờ tùy thân của vợ chồng chị A. Theo kết luận của Hội đồng định giá, chiếc ví nữ bằng vải có giá trị 90.000 đồng. Vì vậy, Hội đồng xét xử kết luận các bị Nguyễn Thị Bích V phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Về tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự xét thấy: Bị cáo Nguyễn Thị Bích V là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, xác định được hành vi của mình là trái pháp luật, nhưng bị cáo vẫn thực hiện. Bi cáo đã lén lút chiếm đoạt tài sản của chị Nguyễn Thị Thùy D và chị Lê Thị Hải A. Hành vi của các bị cáo nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác mà còn gây ảnh hưởng xấu đến trật tự địa phương, gây mất lòng tin trong quần chúng nhân dân. Bị cáo có nhân thân xấu đã nhiều lần bị xử phạt tù về tội Trộm cắp tài sản nhưng vẫn không chịu tu dưỡng rèn luyện bản thân mà tiếp tục phạm tội, bị cáo phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự phạm
- 3 -
tội hai lần trở lên, tái phạm. Xét thấy, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử giảm nhẹ cho bị cáo một phần vì thành khẩn khai báo, bị hại chị Nguyễn Thị Thủy D có đơn đề nghị giảm hình phạt cho bị cáo, nên xử phạt bị cáo 01 năm tù là phù hợp.
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng là hợp pháp.
. Về trách nhiệm dân sự: Cơ quan điều tra Công an thành phố Huế đã trả tài sản cho các bị hại và họ không có yêu cầu gì thêm nên không xét.
. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Thị Bích V phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự;
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Bích V phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Bích V 01 năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam 13/01/2019.
2. Về án phí: p dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, buộc bị cáo Nguyễn Thị Bích V phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh TT-Huế; - Sở Tư pháp TT-Huế; - VKSND tp. Huế; - Công an tp. Huế - Bị cáo; - Bị hại; - Người có QLNVLQ; - Phòng PV 27 Công an Thừa Thiên Huế; - Chi cục THA dân sự tp.Huế; - Hồ sơ vụ án. - 4 - | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Thái Thị Hồng Vân |