vanban.org

Bản án 105/2019/HSST — Hình sự

TAND huyện Thanh Trì, TP. Hà Nội Tuyên án 12/07/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

cáo Bùi Thị Mphạm tội " Trộm cắp tài sản"

Xử phạt : Bùi Thị M 24(Hai mươi bốn) thángtù;Tổng hợp với 15 tháng tù của bản án số 141/2019/HSST ngày 09/05/2019 của Tòa án nhân dân thành phố N, tỉnh Nam Định. Hình phạt chung cho 02 bản án là 39 (Ba mươi chín) tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày phạm tội mới của bản án số 141 là ngày 20/02/2019, t… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tào sảm - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? cáo Bùi Thị Mphạm tội " Trộm cắp tài sản"
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Bản án số: 105/2019/HSST
Ngày 12/07/2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘICHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ - THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ tọa phiên toà: Ông Đỗ Văn Nghiêm

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Văn Huy

Ông Nguyễn Đức Thành

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Huỳnh Phương Minh – Thư ký Tòa án

nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội tham gia

phiên toà: Bà Đặng Thị Sơn Cầm- Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 07 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố

Hà Nội, xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 86/2019/HSST ngày 20/05/2019

đối với:

Bùi Thị M, sinh năm 1974; HKTT và nơi ở: phường T, thành phố N, tỉnh Nam

Định; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự

do; Trình độ văn hóa: 7/12; con ông: Bùi Ngọc L (chết); con bà Phạm Thị T; có chồng Lưu

Văn T; có 2 con, lớn sinh năm 1995 nhỏ 2003; bị cáo bị bắt về tội khác ngày 20/02/2018-

Có mặt

Bị hại: ÔngNguyễn Khắc H, sinh năm 1960; HKTT: phường P, quận B, thành phố

Hà Nội – Vắng mặt có lý do

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được

tóm tắt như sau:

Thông qua mạng xã hội Zalo, Bùi Thị M làm quen và kết bạn với ông Nguyễn Khắc

H. Đến khoảng 12 giờ 50’ ngày 05/12/2018, Mơ hẹn ông H đi uống nước; sau đó, ông H

điều khiển xe moto Airblade màu xám BKS: 29L5 – 065.78 đến đón và chở M đến nhà

nghỉ V tại Thôn V, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội. Khi đến nhà nghỉ, ông H thuê phòng

302 rồi cả hai người cùng vào phòng nói chuyện. Sau khi nói chuyện được khoảng 10

phút, ông H để 01 điện thoại Samsung Galaxy J7, 01 đồng hồ đeo tay casio, chìa khóa xe

moto Airblade màu xám BKS: 29L5 – 065.78 ở trên mặt bàn; còn 01 ví da màu đen bên

trong ví có: 8.000.000đ, 01 chứng minh nhân dân quân đội, 01 giấy phép lái xe quân đội,

01 thẻ ATM của ngân hàng MBBank đều mang tên Nguyễn Khắc H, ông H để ở trong túi áo và treo vào mắc áo trong phòng. Khi ông H đi tắm, M nảy sinh ý định trộm cắp tài sản nên đã trộm cắp toàn bộ số tài sản trên cho vào túi xách của M rồi cầm chìa khóa xe moto của ông H và nói với ông H là đi xuống lấy bao cao su và nước. Ông H đang ở trong nhà tắm nghe thấy M nói liền đáp lại để ông xuống lấy cho nhưng M cầm theo tài sản đã trộm cắp được rồi đi xuống chỗ để xe moto, mở khóa và điều khiển chiếc xe moto Honda Airblade màu xám BKS: 29L5 – 065.78 đi về Nam Định. Trên đường đi, M dừng xe kiểm tra lại tài sản đã trộm cắp được; M đã vứt 01 đồng hồ đeo tay casio, 01 ví da màu đen, 01 chứng minh nhân dân quân đội, 01 giấy phép lái xe quân đội, 01 thẻ ATM của ngân hàng MBBank đều mang tên Nguyễn Khắc H ở ven đường. Chiếc điện thoại Samsung J7, M đã bán cho một cửa hàng mua bán điện thoại cũ được 500.000 đồng; chiếc xe moto Airblade, BKS: 29L5 – 065.78 M đưa cho con gái tên là Lưu Thị Ngọc Q (sinh năm 1995, HKTT: phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định) sử dụng; số tiền mặt 8.000.000 đồng cùng với số tiền bán được điện thoại, M đã tiêu xài cá nhân hết.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 350 ngày 17/12/2018 của Hội đồng định giá tài

sản trong tố tụng hình sự huyện T kết luận: 01 chiếc đồng hồ casio màu đen đã qua sử dụng không định giá do không đủ thông tin về tài sản định giá (không thu được tang vật, không rõ nguồn gốc xuất xứ, model tài sản dịnh giá); 01 chiếc xe máy hiệu Honda Airblade có giá trị 33.295.150 đồng và 01 chiếc điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J7 có giá trị 1.800.000 đồng. Tổng giá trị các tài sản định giá là 43.095.150đồng (Bốn mươi ba triệu không trăm chín mươi lăm nghìn một trăm năm mươi đồng).

Tại bản cáo trạng số 80/CT- VKS ngày 13/05/2019, của Viện kiểm sát nhân dân

huyện Thanh Trì truy tố Bùi Thị M về tội "Trộm cắp tài sản" theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà: Bị cáo thừa nhận hành vi trộm cắp tài sản của mình như bản cáo trạng

đã truy tố. Lời nói sau cùng bị cáo rất hối hận với hành vi trộm cắp của mình tỏ ra ăn năn hối cải và thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình; đề nghị hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo mức hình phạt thấp để bị cáo có cơ hội sửa chữa, tái hòa nhận cộng đồng làm người có ích cho gia định và cho xã hội.

- Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa đã xem xét toàn diện các

chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, thông qua việc xét hỏi, tranh luận công khai tại phiên tòa đã luận tội và kết luận: Khoảng 13giờ 05’ ngày 05/12/2018, tại nhà nghỉ V ở Thôn V, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội; Bùi Thị M đã trộm cắp 01 điện thoại Samsung Galaxy J7, 01 đồng hồ đeo tay casio, 01 xe moto Airblade màu xám BKS: 29L5 – 065.78, 01 ví da màu đen bên trong có 8.000.000đồng, 01 chứng minh nhân dân quân đội, 01 giấy phép lái xe quân đội, 01 thẻ ATM của ngân hàng MBBank đều mang tên Nguyễn Khắc H; tổng trị giá tài sản trộm cắp trên là 43.095.150đồng. Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì giữ nguyên quyết định truy tố đối với Bùi Thị M về tội "Trộm cắp tài sản" như nội dung bản cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo mức án từ 24 đến 30 tháng tù. Tổng hợp 15 tháng tù của bản án số 141/2019/HSST ngày 09/05/2019 của Tòa án nhân dân thành phố N, tỉnh Nam Định; hình phạt chung cho 02 bản án từ 39 – 45 tháng tù. Không áp dụng hình phạt

bổ sung đối với bị cáo. Buộc bị cáo bồi thường cho ông Nguyễn Khắc H 9.800.000đồng.

Bị cáo phải chịu án phí và có quyền kháng cáo bản án theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ :

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra

tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Công an huyện Thanh trì, Điều tra viên;

Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã

thực hiện đúng về thẩm quyền. Đến thời điểm mở phiên tòa không có người tham gia tố

tụng nào có ý kiến và khiếu nại. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ quy định của pháp luật

xét xử vụ án và nhận định hành vi phạm tội của bị cáo như sau [1]

Do không có tiền tiêu sài cá nhân bị cáo đã dùng thủ đoạn thông qua mạng xã hội

Zalo làm quen và kết bạn với ông Nguyễn Khắc H rồi rủ ông H đi nhà nghỉ. Đến khoảng

13giờ 05’ ngày 05/12/2018, tại nhà nghỉ V ở Thôn V, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội;

lợi dụng lúc ông H vào nhà vệ sinh bị cáo đã lén lút trộm cắp 01 điện thoại Samsung

Galaxy J7, 01 đồng hồ đeo tay casio, 01 xe moto Airblade màu xám BKS: 29L5 – 065.78,

01 ví da màu đen bên trong có 8.000.000đồng, 01 chứng minh nhân dân quân đội, 01 giấy

phép lái xe quân đội, 01 thẻ ATM của ngân hàng MBBank đều mang tên Nguyễn Khắc H;

tổng trị giá tài sản trộm cắp trên là 43.095.150đồng. Hành vi của bị cáo là có đủ dấu hiệu

cấu thành tội "Trộm cắp tài sản" theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Do vậy, cần xử

phạt bị cáo mức án nghiêm khắc, tương ứng với hành vi phạm tội của bị cáo. Khi xem xét

đến lượng hình, Hội đồng xét xử đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi người

phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của vụ án, thấy [2]:

Tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội. Bị

cáo là người có tuổi và khỏe mạnh nhưng không chịu tu dưỡng bản thân để trở thành

người có ích cho gia đình và cho xã hội, mà lại đi vào con đường phạm tội. Thể hiện bị

cáo là người sống buông thả và coi thường pháp luật. Trong khi bị cáo là người có đầy đủ

năng lực trách nhiệm hình sự và nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản của người khác

là bất hợp pháp và vi phạm pháp luật nghiêm trọng, đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở

hữu tài sản hợp pháp của người khác được Bộ luật hình sự bảo vệ; gây mất trật tự trị an

cho xã hội, gây bức xúc trong quần chúng nhân dân. Do vậy cần có mức án nghiêm khắc,

cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, để cải tạo, giáo dục và phòng ngừa chung [3].

Nhân thân và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ: Bị cáo chưa có tiền án tiền sự, nhưng

trong thời gian chuẩn bị xét xử bị cáo lại phạm tội mới, thể hiện bị cáo là người coi thường

pháp luật, có nhân thân xấu. Sau khi phạm tội tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo

thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình để các cơ quan tiến hành tố tụng

nhanh kết thúc vụ án. Đây được coi là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s

khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ cho bị cáo[4].

Về dân sự: Người bị hại là ông Nguyễn Khắc H yêu cầu bị cáo có trách nhiệm bồi

hoàn những khoản mà bị cáo đã chiếm đoạt là có cơ sở nên được Hội đồng xét xử chấp

thuận. Buộc bị cáo phải có trách nhiệm bồi hoàn cho ông Nguyễn Khắc H 01 điện thoại Samsung Galaxy J7 là 1.800.000đồng, và 8.000.000đồng trong ví da màu đen; tổng số tiền bị cáo phải bồi thường cho người bị hại là 9.800.000đồng

Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm; 300.000đồng

tiền án phí dân sự sơ thẩm[6].

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định

của pháp luật [7].

Vì các căn cứ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51Bộ luật hình sự, Tuyên bố: Bị

cáo Bùi Thị Mphạm tội " Trộm cắp tài sản"

Xử phạt : Bùi Thị M 24(Hai mươi bốn) thángtù;Tổng hợp với 15 tháng tù của bản án

số 141/2019/HSST ngày 09/05/2019 của Tòa án nhân dân thành phố N, tỉnh Nam Định. Hình phạt chung cho 02 bản án là 39 (Ba mươi chín) tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày phạm tội mới của bản án số 141 là ngày 20/02/2019, tiếp tục giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.

Áp dụng Điều 47, Điều 48, Điều 56 Bộ luật hình sự; Điều 106, khoản 2Điều 136,

Điều 331, Điều 332, Điều 333 và Điều 336 Bộ luật tố tụng hình sự; áp dụng Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Về dân sự: Buộc bị cáo phải bồi hoàn cho ông Nguyễn Khắc H 9.800.000đồng.

Tr êng hîp b¶n ¸n, quyÕt ®Þnh ® îc thi hµnh theo quy ®Þnh t¹i §iÒu 2 LuËt thi hµnh

¸n d©n sù th× ng êi ® îc thi hµnh ¸n d©n sù, ng êi ph¶i thi hµnh ¸n d©n sù cã quyÒn tháa thuËn thi hµnh ¸n, quyÒn yªu cÇu thi hµnh ¸n, tù nguyÖn thi hµnh ¸n hoÆc bÞ c ìng chÕ thi hµnh ¸n theo quy ®Þnh t¹i c¸c ®iÒu 6, 7 vµ LuËt thi hµnh ¸n d©n sù; thêi hiÖu thi hµnh ¸n ® îc thùc hiÖn theo quy ®Þnh t¹i §iÒu 30 luËt thi hµnh ¸n d©n sù";

Buộc bị cáo phải chịu 200.000đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm và 300.000đồng tiền

án phí dân sự sơ thẩm

Án xử công khai sơ thẩm, bị cáocó mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong

thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được kết quả xét xử.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Cỡ chữ