vanban.org

Bản án 105/2019/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Hải Châu, TP Đà Nẵng Tuyên án 07/11/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Võ Văn T phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Võ Văn T 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ. Thời gian cải tạo không giam giữ được tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án. Giao bị cáo Võ Văn T cho Ủy ban nhân dân phường M, quận N, thành phố Đà… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Võ Văn T - phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 178 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Võ Văn T phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 178 Bộ luật Hình sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. ĐÀ NẴNG
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU
Bản án số: 105/2019/HS-ST
Ngày 07 tháng 11 năm 2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU - TP ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Diện

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Thanh Trà

Ông Huỳnh Tiễn

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Lê Mai Ly - Thư ký Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Tường Vy - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 103/2019/TLST-HS ngày 11 tháng 10 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 103/2019/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 10 năm 2019 đối với bị cáo:

Võ Văn T - Sinh ngày 02 tháng 7 năm1964 tại thành phố Đà Nẵng.

Nơi ĐKNKTT: Tổ 11, phường X, quận Y, thành phố Đà Nẵng. Chỗ ở hiện nay: Tổ 39, phường M, quận N, thành phố Đà Nẵng; nghề nghiệp: Lao động phổ thông; trình độ học vấn: 04/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Văn L (đã chết) và bà Trần Thị H (đã chết); có vợ là Nguyễn Thị K (sinh năm 1960, đã ly hôn) và 03 con, con lớn nhất sinh năm 1983, nhỏ nhất sinh năm 1993.

Tiền án, tiền sự: Chưa.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 06.8.2019, có mặt tại phiên tòa.

* Người bị hại: Ông Huỳnh Văn H - Sinh năm 1966. Trú tại: Tổ 35, phường O, quận Q, thành phố Đà Nẵng (có mặt tại phiên tòa).

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Võ Thị Đ - Sinh năm 1969. Trú tại: 497 đường H, phường C, quận Y, thành phố Đà Nẵng (có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG CỦA VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ 00’ ngày 26.03.2019, ông Huỳnh Văn H (Trú tại: Tổ 35, phường O, quận Q, thành phố Đà Nẵng) điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Air Blade, biển kiểm soát 43H1- 107.83 đến nhà bà Võ Thị Đ tại số 497 đường H, phường C, quận Y, thành phố Đà Nẵng để sửa máy nổ và để xe trên vỉa hè.

Đến 15 giờ 00’cùng ngày, Võ Văn T đến nhà bà Võ Thị Đ thấy ông Huỳnh Văn H ở trong nhà, Võ Văn T nảy sinh ghen tuông (do trước đây T và bà Đ có mối quan hệ tình cảm với nhau) nên giữa T và ông H có lời qua tiếng lại, cãi vã với nhau. Sau đó, Võ Văn T chạy vào trong nhà bà Đ lấy 01 chiếc búa cán gỗ, đầu búa bằng kim loại ném vào người ông H nhưng không trúng; T tiếp tục lấy 01 cái búa khác cán bằng gỗ, đầu búa bằng kim loại ở trong nhà bà Đ đập nhiều cái vào ốp pha đèn phải, ốp sườn phải, đèn xe phía bên phải xe của ông H gây hư hỏng. Lúc này, bà Đ chạy đến can ngăn thì bị T dùng tay tát một cái vào vùng mặt rồi bỏ đi. Sau khi sự việc xảy ra, ông Huỳnh Văn H đã đến Công an phường C trình báo sự việc.

Vật chứng thu giữ: 01 chiếc búa cán gỗ dài khoảng 20 cm, đầu búa bằng kim loại dài khoảng 12 cm.

Theo Kết luận định giá tài sản số 67/KL-HĐĐG ngày 15.5.2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự - Ủy ban nhân dân quận Hải Châu, kết luận: Xe mô tô Honda Air Blade, biển kiểm soát 43H1- 107.83 đã qua sử dụng bị hư hỏng như sau: Ốp pha đèn phải (02 cái), ốp sườn phải, pha đèn, 02 bóng pha và tiền công thay thế tổng cộng là 2.922.000 đồng. Riêng ốp sườn bên trái xe không phải do T đập mà do ông H tự thay thế để trùng màu sơn, tem với ốp sườn bên phải.

Về trách nhiệm dân sự: Võ Văn T đã bồi thường số tiền 1.500.000 đồng theo yêu cầu, người bị hại ông Huỳnh Văn H không yêu cầu Võ Văn T phải bồi thường gì thêm. Bà Võ Thị Đ bị Võ Văn T dùng tay đánh trúng vào mặt, nhưng có đơn xin không giám định thương tích và không yêu cầu Võ Văn T phải bồi thường gì.

Tại Bản kết luận điều tra số 110/ĐTTH ngày 23.9.2019 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng đề nghị truy tố Võ Văn T về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự.

Tại Bản cáo trạng số 109/CT-VKS ngày 10.10.2019 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng truy tố Võ Văn T về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Võ Văn T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, thống nhất với kết luận định giá tài sản; bị cáo nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Người bị hại ông Huỳnh Văn H và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Võ Thị Đ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng hình phạt nhẹ nhất có thể.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Võ Văn T về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo khoản 1 điều 178 Bộ luật Hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Võ Văn T từ 06 đến 09 tháng cải tạo không giam giữ; không áp dụng việc khấu trừ thu nhập vì bị cáo Võ Văn T không có việc làm, thu nhập không ổn định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định tố tụng đã được thực hiện là hợp pháp.

Về nội dung vụ án:

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Võ Văn T đã thừa nhận hành vi phạm tội. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại, của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu chứng cứ khác được thu thập trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở để kết luận: Xuất phát từ việc ghen tuông trong quan hệ tình cảm, nên khoảng 15 giờ 00’ ngày 26.3.2019 tại nhà bà Võ Thị Đ (địa chỉ số 497 đường H, phường C, quận Y, thành phố Đà Nẵng); Võ Văn T đã dùng một cây búa đập nhiều cái vào chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Air Blade, biển kiểm soát 43H1- 107.83 thuộc sở hữu của ông Huỳnh Văn H. Hậu quả làm hư hỏng ốp pha đèn phải (02 cái), ốp sườn phải, pha đèn, 02 bóng pha, gây thiệt hại về tài sản với số tiền 2.922.000 đồng. Hành vi của bị cáo Võ Văn Út đã cấu thành tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Về tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo:

Hành vi phạm tội của bị cáo không chỉ xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn làm ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự tại địa phương. Tại thời điểm phạm tội, bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Do đó, cần phải có hình phạt phù hợp để răn đe, giáo dục đối với bị cáo nói riêng cũng như đấu tranh phòng ngừa chung.

Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo Võ Văn T có nhân thân tốt thể hiện ở việc chưa có tiền án, tiền sự; có nơi cư trú rõ ràng; không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; đã tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả; quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và được người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan xin giảm nhẹ hình phạt. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cần được áp dụng cho bị cáo.

Về quyết định hình phạt:

Căn cứ vào tính chất, mức độ hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo, các giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của bị cáo Võ Văn T. Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà căn cứ Điều 36 Bộ luật Hình sự áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ cũng đủ sức răn đe, giáo dục đối với bị cáo. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường M, quận N, thành phố Đà Nẵng để giám sát, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội. Theo quy định tại khoản 3 Điều 36 Bộ luật Hình sự, thì trong thời gian chấp hành án, bị cáo phải thực hiện một số nghĩa vụ theo quy định về cải tạo không giam giữ và bị khấu trừ một phần thu nhập từ 5% đến 20% để sung quỹ nhà nước. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo không có công việc, thu nhập ổn định, hoàn cảnh kinh tế còn khó khăn nên xét miễn việc khấu trừ thu nhập đối với bị cáo Võ Văn T.

Về trách nhiệm dân sự:

Người bị hại ông Huỳnh Văn H không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm, nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Võ Thị Đ bị Võ Văn T dùng tay đánh trúng vào mặt, bà Đ không yêu cầu giám định thương tích, không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì, nên Công an quận Hải Châu đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này của Võ Văn T là có căn cứ.

Về xử lý vật chứng:

Một chiếc búa cán gỗ dài khoảng 20 cm, đầu búa bằng kim loại dài khoảng 12 cm. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Hải Châu đã trả lại cho chủ sở hữu là bà Võ Thị Đức là đúng quy định tại Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Về án phí: Bị cáo Võ Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Võ Văn T phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 178; các điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt: Bị cáo Võ Văn T 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ. Thời gian cải tạo không giam giữ được tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.

Giao bị cáo Võ Văn T cho Ủy ban nhân dân phường M, quận N, thành phố Đà Nẵng để giám sát, giáo dục bị cáo.

2. Về án phí:

Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Võ Văn T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn) án phí hình sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo:

Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ