vanban.org

Bản án 105/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh Tuyên án 26/11/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về bồi thường thiệt hại: Căn cứ Điều 589 của Bộ luật Dân sự;

Bị cáo có nghĩa vụ bồi thường cho anh Phạm Thành T2 số tiền 2.500.000 (hai triệu năm trăm nghìn) đồng. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phả… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phan Thái B can tội chống người thi hành công vụ - phạm tội chống người thi hành công vụ (điều 330 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLH…"
  • Tòa quyết gì? Về bồi thường thiệt hại: Căn cứ Điều 589 của Bộ luật Dân sự;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRẢNG BÀNG
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 105/2019/HS-ST.
Ngày: 26-11-2019.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Vương Văn Mum;

Bà Dương Thị Mỹ Liên.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Hữu Tuấn – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên toà: Ông Phạm Thanh Giúp - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 11 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 103/2019/TLST-HS ngày 12 tháng 11 năm 2019; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 106/2019/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 11 năm 2019 đối với bị cáo:

Phan Thái B, sinh năm 1989, tại tỉnh Tây Ninh.

Nơi cư trú tại: Ấp LC, xã LH, huyện TB, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Không có; trình độ văn hóa (học vấn): 10/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Văn T và bà Thái Thị L; có vợ tên Nguyễn Thị T, có 01 người con sinh năm 2008; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 12-10-2016, bị Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 18 tháng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”; bị bắt tạm giữ từ ngày 24-8-2019, tạm giạm ngày 30-8-2019 đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Ông Phạm Văn H, sinh năm 1974; cư trú tại: Ấp LP, xã LH, huyện TB, tỉnh Tây Ninh, vắng mặt.

2. Ông Trần Văn N, sinh năm 1985; cư trú tại: Ấp LV, xã LH, huyện TB, tỉnh Tây Ninh, vắng mặt.

3. Ông Lâm Vĩnh T1, sinh năm 1990; cư trú tại: Ấp LA, xã LH, huyện TB tỉnh Tây Ninh, vắng mặt.

4. Ông Huỳnh Văn D, sinh năm 1983; cư trú tại: Ấp LC, xã LH, huyện TB, tỉnh Tây Ninh, vắng mặt.

5. Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1991; cư trú tại: Ấp LP, xã LH, huyện TB, tỉnh Tây Ninh, vắng mặt.

6. Ông Lê Nhựt L, sinh năm 1999; cư trú tại: Ấp LT, xã LH, huyện TB, tỉnh Tây Ninh, vắng mặt.

7. Ông Trần Thanh Tr, sinh năm 1996; cư trú tại: Ấp LT, xã LH, huyện TB, tỉnh Tây Ninh, vắng mặt.

9. Ông Phan Tuấn V, sinh năm 1997; cư trú tại: Ấp LB, xã LH, huyện TB, tỉnh Tây Ninh, vắng mặt.

10. Ông Nguyễn Văn Q, sinh năm 1985; cư trú tại: Ấp LC, xã LH, huyện TB, tỉnh Tây Ninh, vắng mặt.

Nguyên đơn dân sự: Phạm Thành T2, sinh năm 1983; cư trú tại: Ấp LT, xã LH, huyện TB, tỉnh Tây Ninh, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 15 giờ 30 phút ngày 23-8-2019, đoàn tiêu hủy lợn mắc bệnh dịch tả lợn Châu Phi của Ủy ban nhân dân xã Lộc Hưng, huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh cùng anh Nguyễn Văn Quân là tài xế xe cuốc, tiến hành tiêu hủy lợn bệnh tại nghĩa địa thuộc ấp Lộc Chánh, xã Lộc Hưng, huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh. Khi anh Quân đang điều khiển xe cuốc đào hố thì Phan Thái B từ trong nhà cầm theo 01 cây súng tự chế (loại súng sử dụng hơi cồn), 01 cây dao (loại dao Thái Lan), 01 chai nhựa có chứa xăng đi về phía đoàn tiêu hủy chửi và ngăn cản không cho tiêu hủy lợn. Sau đó, B đi lại đứng phía sau xe cuốc khoảng 10 mét và dùng súng bắn 01 phát làm bể kính xe cuốc, anh Q hoảng sợ xuống xe bỏ chạy thì B leo lên buồng lái rút chìa khóa xe rồi cầm 01 đoạn cây gỗ đập vào bên hông cửa xe 02 đến 03 cái; cầm chai nhựa có chứa xăng đổ xăng lên thùng xe và dùng bật lửa đe dọa sẽ đốt xe nếu không ngưng hoạt động tiêu hủy lợn. Sau đó, B bỏ đi về nhà, khi đoàn tiêu hủy tiếp tục làm nhiệm vụ, B quay lại cầm súng tự chế bắn về phía lực lượng Công an, Dân quân xã nhưng không trúng rồi bỏ trốn, đến 19 giờ cùng ngày thì B bị Công an bắt giữ.

Tại Kết luận định giá tài sản số 39/KLĐG ngày 14-10-2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh; kết luận: 01 kính xe cuốc (xe múc đất) hiệu “KUMATSU PC120” có kích thước (80 x 60) cm (loại kính hạt lựu) trị giá 2.500.000 đồng.

Tại kết luận giám định số: 4904/C09B ngày 06-11-2019 của Viện khoa học hình sự - Phân viện khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: 01 cây súng chiều dài 72,5cm được làm bằng kim loại và nhựa, trên thân súng có quấn băng keo màu đen, phần dưới bá súng có chứa nhiều viên bi kim loại màu trắng không phải là vũ khí quân dụng.

Tại Cáo trạng số: 110/CT-VKS ngày 12-11-2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bàng đã truy tố bị cáo Phan Thái B về tội: “Chống người thi hành công vụ” theo khoản 1 Điều 330 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ khoản 1 Điều 330; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Phan Thái B từ 12 đến 15 tháng tù.

Về bồi thường thiệt hại: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 589 Bộ luật Dân sự;

Buộc bị cáo Phan Thái B có nghĩa vụ bồi thường số tiền 2.500.000 đồng cho ông Phạm Thành T2.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Đề nghị Hội đồng xét xử xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung vụ án đã nêu.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo nhận thức được hành vi của bị cáo là sai trái, vi phạm pháp luật. Mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hành phạt cho bị cáo để bị cáo sớm về đoàn tụ gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Trảng Bàng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bàng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi của bị cáo thể hiện: Vào ngày 23-8-2019, tại khu vực ấp Lộc Chánh, xã Lộc Hưng, huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh, Phan Thái B có hành vi dùng vũ lực cản trở đoàn tiêu hủy lợn mắc bệnh dịch tả lợn Châu Phi của Ủy ban nhân dân xã Lộc Hưng, huyện Trảng Bàng đang thực hiện nhiệm vụ.

Hành vi phạm tội của bị cáo trực tiếp xâm phạm hoạt động bình thường, đúng đắn của cơ quan nhà nước, làm giảm hiệu lực quản lý nhà nước. Bị cáo biết rõ ông Phạm Văn H là Phó chủ tịch UBND xã Lộc Hưng kết hợp với công an viên của xã Lộc Hưng đang thực hiện công vụ tiêu hủy lợn mắc bệnh dịch tả lợn Châu phi, nhưng bị cáo ngăn cản chống đối không cho đoàn thực hiện nhiệm vụ, Viện kiển sát truy tố bị cáo về tội “Chống người thi hành công vụ” là có căn cứ. Do đó, để phòng chống loại tội phạm này, cần xử lý nghiêm mới có tác dụng giáo dục và phòng ngừa.

Do đó, đủ căn cứ kết luận bị cáo Phan Thái Bình phạm tội “Chống người thi hành công vụ” theo khoản 1 Điều 330 của Bộ luật Hình sự.

Khi quyết định hình phạt có cân nhắc đến các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Cụ thể:

Về tình tiết tăng nặng: Không có. Tuy nhiên, bị cáo có nhân thân thể hiện bị cáo có tiền sự về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành thật khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải nên cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về bồi thường thiệt hại: Căn cứ Điều 589 của Bộ luật Dân sự; bị cáo có nghĩa vụ bồi thường cho ông Phạm Thành T2 số tiền 2.500.000 đồng.

Về xử lý vật chứng:

Đối 01 khúc cây tầm vong dài 1,22mét; 01 chai nhựa màu trắng, nắp chai bằng nhựa màu đỏ có dung tích 330ml (loại chai STING) bên trong có chứa 300ml chất lỏng màu vàng nhạt; 01 chai nhựa màu trắng, nắp chai bằng nhựa màu đỏ có dung tích 330ml (loại chai STING) bên trong không có chất gì; 01 bật lửa bằng nhựa màu xanh, trên thân bật lửa có chữ “Vi va Giang Đạt Thành”, phần trên bật lửa không có nắp chụp; 02 chìa khóa bằng kim loại có ghi chữ “Việt Tiệp”; 01 chìa khóa bằng kim loại có ghi chữ “TOYOTA”; 01 chìa khóa bằng kim loại không có ghi chữ gì; 01 cây súng tự chế có chiều dài 72,5cm được làm bằng kim loại và nhựa, trên thân súng có quấn băng keo màu đen, phần dưới bá súng có chứa nhiều viên bi kim loại màu trắng; 01 cây dao (loại dao Thái Lan) dài 23cm, lưỡi dao bằng kim loại màu trắng dài 11,5cm, cán dao bằng gỗ dài 11,5cm; một số mảnh kính xe ôtô bị vỡ; 01 ví da màu nâu; là công cụ phương tiện phạm tội và vật dụng không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

Đối 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu trắng, số IMEI: 352167050311431 thu của bị cáo, xét thấy không liên quan đến vụ án cần tuyên trả lại bị cáo.

Bị cáo pH chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 1 Điều 330; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Phan Thái B (Lằn) 01 (một) năm tù về tội “Chống người thi hành công vụ”, thời gian chấp hành án tính từ ngày 24-8-2019.

2. Về bồi thường thiệt hại: Căn cứ Điều 589 của Bộ luật Dân sự;

Bị cáo có nghĩa vụ bồi thường cho anh Phạm Thành T2 số tiền 2.500.000 (hai triệu năm trăm nghìn) đồng.

3. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015.

4. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự;

Tuyên tịch thu tiêu hủy: 01 khúc cây tầm vong dài 1,22 mét; 01 chai nhựa màu trắng, nắp chai bằng nhựa màu đỏ có dung tích 330ml (loại chai STING) bên trong có chứa 300 ml chất lỏng màu vàng nhạt; 01 chai nhựa màu trắng, nắp chai bằng nhựa màu đỏ có dung tích 330 ml (loại chai STING) bên trong không có chất gì; 01 bật lửa bằng nhựa màu xanh, trên thân bật lửa có chữ “Vi va Giang Đạt Thành”, phần trên bật lửa không có nắp chụp; 02 chìa khóa bằng kim loại có ghi chữ “Việt Tiệp”; 01 chìa khóa bằng kim loại có ghi chữ “TOYOTA”; 01 chìa khóa bằng kim loại không có ghi chữ gì; 01 cây súng tự chế có chiều dài 72,5cm được làm bằng kim loại và nhựa, trên thân súng có quấn băng keo màu đen, phần dưới bá súng có chứa nhiều viên bi kim loại màu trắng; 01 cây dao (loại dao Thái Lan) dài 23cm, lưỡi dao bằng kim loại màu trắng dài 11,5cm, cán dao bằng gỗ dài 11,5cm; Một số mảnh kính xe ôtô bị vở; 01 ví da màu nâu.

Tuyên trả lại bị cáo: 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu trắng, số IMEI: 352167050311431

5. Án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30-12-2016.

Bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

6. Báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong hạn 15 ngày kể từ ngày toà tuyên án. Riêng đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

7. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự

Cỡ chữ