- Tranh chấp gì? án hình sự — "trần duy hưng phạm tội mua ban trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình s…"
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆ N THÁ I THỤ Y TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Án số: 105/2018/HS-ST Ngày:16- 11- 2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆ N THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Kim Hằng.
Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Phan Văn Tiến
- Ông Phạm Hồng Thiêm
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễ n Công Khuông - Thư ký Toà án nhân dân huyệ n Thá i Thụ y.
Đạ i diệ n Việ n kiể m sá t nhân dân huyệ n Thá i Thụ y tham gia phiên tòa: Bà Ông Đỗ Xuân Long - Kiểm sát viên.
Trong ngà y 16 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thái
Thụy, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 108/2018/TLST-HS ngày 30 tháng 10 năm 2018, theo Quyế t đị nh đưa vụ á n ra xé t xử số : 107/2018/HSST-QĐ ngà y 05 tháng 11 năm 2018, đố i vớ i bị cá o:
Trần Văn H, tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam; Sinh năm 1972.
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: thôn Đ, xã Th, huyện Th, tỉnh Thái Bình.
Dân tộc: Kinh;Tôn giáo: Không; Quốc tịch:Việt Nam;Trình độ học vấn: Không biết chữ ;Nghề nghiệp: Lao động tự do; Cha đẻ: Trần Văn M (đã chết); Mẹ đẻ: Đặng Thị G, sinh năm 1936; có vợ: Đào Thị V sinh năm 1977; có 02 con, lớn sinh năm 2000, nhỏ sinh năm 2004.
Tiền án: 03 tiền án.
+ Tại bản án hình sự sơ thẩm số 49/2009/HSST ngày 04/9/2009 của Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy xử phạt H 01 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999. Đến ngày 21/9/2010 H chấp hành xong hình phạt. H đã nộp án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm ngày 22/6/2015. H chưa chấp hành xong hình phạt bổ sung bồi thường dân sự số tiền 1.037.000 đồng cho bị hại.
+ Ngày 07/3/2013 H trộm cắp tài sản có giá trị 800.000 đồng. Tại bản án hình sự sơ thẩm số 22/2013/HS-ST ngày 01/8/2013 của Tòa án nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng xử phạt Hưng 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999. Đến ngày 11/3/2014 Hưng chấp hành xong hình phạt.
+ Tại bản án hình sự sơ thẩm số 61/2015/HSST ngày 23/10/2015 của Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy xử phạt H 03 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999. Đến ngày 18/02/2018 H chấp hành xong hình phạt.
Tiền sự: Không
Quá trình hoạt động của bản thân: Còn nhỏ sống cùng bố mẹ không được đi học nên không biết chữ. Năm 1994 bị Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình xử phạt 09 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tháng 9/2008 bị Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ra trại 30/3/2009. H trộm cắp tài sản trị giá 700.000 đồng,đã được xóa án tích từ ngày 19/6/2009 theo Nghị quyết số 33/2009-QH12 ngày 19/6/2009 của Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; Quyết định số 1891/QĐ - UB ngày 26/11/2001 của Chủ tịch uỷ ban nhân dân tỉnh Thái Bình áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục thời hạn 24 tháng tại Cơ sở giáo dục Xuân Hà, tỉnh Hà Tĩnh. Ngày 05/12/2003 H chấp hành xong. Quyết định số 3497/QĐ - CT ngày 23/12/2004 của Chủ tịch uỷ ban nhân dân tỉnh Thái Bình Bình áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục thời hạn 24 tháng tại Cơ sở giáo dục Xuân Hà, tỉnh Hà Tĩnh. Ngày 24/12/2006 Hưng chấp hành xong về địa phương sinh sống .
Bị bắt, tạm giữ từ ngày 15/6/2018 đến ngày 18/6/2018 chuyển tạm giam đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh Thái Bình.( có mặt tại phiên tòa)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Anh Đặng Văn H, sinh năm 1981 ( vắng mặt)
Đại chỉ: thôn 2 Đồng, xã Th, huyện Th, tỉnh Thái Bình
Người làm chứng và người chứng kiến:
Ông Đoàn Duy T, sinh năm 1967 (vắng mặt)
địa chỉ: ở thôn Tu, xã Th, huyện Th, tỉnh Thái Bình
Anh Phạm Văn Tr, sinh năm 1978 (vắng mặt)
Địa chỉ: thôn B, xã Th,huyện Th, tỉnh Thái Bình
NỘ I DUNG VỤ Á N:
Theo cá c tà i liệ u có trong hồ sơ vụ á n và diễ n biế n tạ i phiên tò a , nộ i dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do mắc nghiện ma túy, bị cáo H thường đi mua ma túy của những người không biết tên tuổi, địa chỉ về sử dụng. Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 15/6/2018 H bắt xe ôm xuống khu vực chợ Diêm Điền mua 01 gói ma túy của một người đàn ông khoảng 50 tuổi nhưng không biết tên, địa chỉ với giá 200.000 đồng. Nhận ma túy, H mang về nhà lấy một ít sử dụng, số ma túy còn lại H chia làm hai phần, một phần gói vào tờ giấy tráng kim loại màu vàng, một phần đựng trong túi nilông. Đến khoảng 13giờ cùng ngày H mang theo số ma túy đi bộ đến xã Thụy Hồng thì gặp Phạm Văn T đang ở đó, H và T ngồi chơi cạnh bờ hồ thuộc thôn Vạn Đồn, xã Thụy Hồng đến khoảng 14 giờ thì H nhận được điện thoại của Đặng Văn H gọi đến hỏi “anh có Heroine không bán cho em200.000 đồng”, sẵn có ma túy trong người nên Hưng đồng ý và hẹn Hải xuống khu vực bờ hồ thôn Vạn Đồn, xã Thụy Hồng. Đến 14giờ 30 phút H đến chỗ hẹn và đưa cho H 200.000 đồng, H nhận tiền rồi cất vào túi áo ngực bên trái H đang mặc rồi lấy từ trong túi quần ra 01 gói ma túy đưa cho H, Hvừa cất gói ma túy vào túi quần đang mặc thì bị tổ tuần tra Công an huyện Thái Thụy phát hiện đưa H, H và Tr về trụ sở Ủy ban nhân dân xã Thụy Hồng để làm việc có sự chứng kiến của chính quyền địa phương, ông Đoàn Duy T và anh Phạm Văn Tr. Kiểm tra người H đã thu giữ trong túi quần bên trái phía trước H đang mặc 01 gói được gói bằng giấy tráng kim loại màu vàng, mở ra bên trong chứa chất bột màu trắng dạng cục. H khai đó là gói ma túy, loại Heroine H vừa mua của H với giá 200.000 đồng về để sử dụng cho bản thân; kiểm tra người H thu giữ trong túi áo ngực bên trái H đang mặc 200.000 đồng, thu trong túi quần bên phải phía trước của H 01 chiếc điện thoại Nokia vỏ màu đen, đã cũ và 01 túi ni lông không màu bên trong chứa chất bột màu trắng dạng cục, H khai đó là tiền H vừa bán 01 gói ma túy cho Hmà có.Kiểm tra người T nhưng không phát hiện thu giữ được gì. Công an huyện Thái Thụy đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong số ma túy đã thu giữ của Hải (mẫu số A1), số ma túy đã thu giữ của H(Mẫu số A2). Cùng ngày Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Thái Thụy khám xét khẩn cấp nơi ở của H nhưng không phát hiện thu giữ gì.
Bản kết luận giám định số 250/KLGĐ-PC54 ngày 16/6/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Thái Bình kết luận: Mẫu gửi giám định trong phong bì niêm phong ký hiệu Mẫu số A1 là ma túy, loại Heroine (Hêrôin), có khối lượng 0,0272 gam; Mẫu gửi giám định trong phong bì niêm phong ký hiệu Mẫu số A2 là ma túy, loại Heroine (Hêrôin), có khối lượng 0,0381 gam.
Heroine STT: 09, Danh mục I, Nghị định 73/2018/NĐ- CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ (Bút lục số: 37).
Quá trình điều tra, truy tố và tạ i phiên tò a hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai nhậ n toà n bộ hà nh vi phạ m tộ i củ a mì nh.
Bản cáo trạng số 106/KSĐT ngà y 26 tháng 10 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyệ n Thá i Thụ y truy tố Trần Văn H về tộ i “Mua bá n trá i p hép chất ma túy” theo điểm q khoản 2 Điề u 251 Bộ luậ t hì nh sự .
Tại phiên tòa , đạ i diệ n Việ n kiể m sá t nhân dân huyệ n Thá i Thụ y vẫ n giữ
nguyên quan điể m truy tố bị cáo H về tộ i “Mua bá n trá i phé p chấ t ma tú y”.
Đạ i diệ n Việ n kiể m sá t nhân dân huyệ n Thá i Thụ y đề nghị Hộ i đồ ng xé t xử áp dụng :điểm q khoản 2 điều 251, điểm s khoản 1 điều 51, điều 38, điều 50; điểm b,c khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a,b khoản 2 điều 106 BLTTHS; Đề nghị xử phạt bị cáo mứ c á n t ừ 07 năm tù đến 08 năm tù. Thờ i hạ n tù tí nh từ ngà y bị tạm giữ 15/6/2018; Do bị cáo không có công việ c ổ n đị nh, chưa có tài sản gì có giá trị nên không á p dụ ng hì nh phạ t bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo, đề nghị tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy đã thu giữ là vật chứng làm mẫu vật hòan trả sau giám định được niêm phong trong phong bì số 250/ KLGĐ. Tịch thu 1 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA đã cũ màu đen để hóa giá sung công quĩ. Tịch thu số tiền 200.000đồng là tiền do bị cáo phạm tội mà có để sung công quĩ nhà nước.
Buộc bị cáo phải chịu án phí hì nh sự sơ thẩ m theo quy đị nh củ a phá p luậ t.
Bị cáo đồng ý với quan điểm truy tố của vị đại diện Viện kiểm
sát về tội danh, điề u luậ t á p dụ ng, mứ c hì nh phạ t, xử lý vậ t chứ ng và không có ý kiế n , tranh luậ n gì , đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Trướ c khi Hộ i đồ ng xé t xử và o phò ng nghị á n , bị cáo trình bày lời nói sau cùng: Bị cáo rất ân hận về hành vi phạm tội của mình , xin Hộ i đồ ng xé t xử giả m nhẹ hình phạt cho bị cáo, để bị cáo sớm được trở về với gia đình và xã hội.
NHẬ N ĐỊ NH CỦ A HỘ I ĐỒ NG XÉ T XỬ :
Trên cơ sở nộ i dung vụ á n , căn cứ và o cá c tà i liệ u trong hồ sơ vụ á n đã đượ c tranh tụ ng tạ i phiên tò a, Hộ i đồ ng xé t xử nhậ n thấ y như sau:
[1] Về hà nh vi, quyế t đị nh tố tụ ng củ a Cơ quan điề u tra Công an huyệ n Thá i Thụy, Điề u tra viên, Việ n kiể m sá t nhân dân huyệ n Thá i Thụ y, Kiể m sá t viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thự c hiệ n đú ng về thẩ m quyề n, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tò a, bị cáo, không ai có ý kiế n hoặ c khiế u nạ i về hà nh vi, quyế t đị nh củ a Cơ quan tiế n hà nh tố tụ ng, ngườ i tiế n hành tố tụng. Do đó , các hành vi, quyế t đị nh tố tụ ng củ a Cơ quan tiế n hà nh tố tụ ng, ngườ i tiế n hà nh tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.
[2] Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lờ i khai củ a bị cá o tạ i phiên tò a hôm nay phù hợ p vớ i lờ i khai củ a bị cá o tạ i giai đoạ n điề u tra, truy tố , phù hợp với các tài liệu , chứ ng cứ như : Biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản niêm phong vật chứng; Biên bản khám xét;Bản kết luận giám định số 250/KLGĐ-PC54 ngày 16/6/2018; ( BL 77;86; 24-30);Lời khai của nhữ ng người làm chứng là anh T, anh Tr và anh H.( BL 94-99) Cùng các tài liệu, chứ ng cứ khá c có trong hồ sơ vụ á n.
[3] Bị cáo là người có đầy đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi của mình, thự c hiệ n vớ i lỗ i cố ý trự c tiế p
[4] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội , đã xâm phạ m quy đị nh quả n lý chấ t gây nghiệ n củ a Nhà nướ c . Ma túy là vật cấm lưu hành, không những làm sa sút về sức khỏe trí tuệ con người mà nó còn làm hủy hoại đạo đức nhân cách con người, là tác nhân lan truyền đại dịch HIV/AIDS, là nguồn gốc phát sinh các loại tội phạm khác gây ả nh hưở ng đế n trậ t tự tr ị an.Bị cáo tuy nhận thức đượ c tá c hạ i củ a ma tú y, nhậ n thứ c đượ c hà nh vi bá n trá i phé p chấ t ma tú y cho ngườ i khác, mục đích để kiếm lời thể hiện sự coi thường pháp luật. Bản kết luận giám định số 250/KLGĐ-PC54 ngày 16/6/2018, số ma tú y thu đượ c củ a bị cá o tại mẫ u A1 và A2 đều là ma túy , loại Heroine (Hêrôin), có trọng lượng lầ n lượ t là 0,0272gam và 0,0381gam. Bị cáo phạm tội trong thời gian chưa được xóa án tích tại bản án hình sự sơ thẩm số 61/2015/HSST ngày 23/10/2015 của Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy xử phạt H 03 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999. Đến ngày 18/02/2018 H chấp hành xong hình phạt
[5] Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bá n trá i phé p chấ t ma túy” theo điểm q khoản 2 Điề u 251 Bộ luậ t hì nh sự .
Điều 251. Tội mua bán trái phép chất ma túy
1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
2. Phạmtội thuộcmột trong cáctrườnghợpsauđây,thìbịphạttùtừ07nămđến15 năm:
a) Có tổ chức;
b) Phạm tội 02 lần trở lên;
c) Đối với 02 người trở lên;
........
q) Tái phạm nguy hiểm.
.......
[6] Xem xé t nhân thân và cá c tì nh tiế t giả m nhẹ , tăng nặ ng trá ch nhiệ m hì nh sự củ a bị cá o thấ y : Bị cáo là ngườ i có nhân thân xấu, có 01 tiền án về tội tàng trữ trái phép chất ma túy, 2 tiền án về tội trộm cắp tài sản ngoài ra còn 2 lần bị bắt buộc đưa vào cơ sở giáo dục. Lần phạm tội này đã bị áp dụng yếu tố tái phạm nguy hiểm là tính tiết định khung hình phạt nên không phải chịu tình tiết tăng nặng. Xong cũng xét quá trình tố tụng bị cáo thành kh ẩn khai báo nên đượ c hưở ng tì nh tiế t giả m nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự.
[7] Xét thấy bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền như đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy tỉnh Thái Bình là phù hợp.
[8] Về xử lý vậ t chứ ng:
Tịch thu 0,0272 gam và 0,0381 gam đều là ma túy loại Heroine đã thu giữ của bị cáo và thu giữ của anh Đặng Văn H là vật chứng sau khi hòan trả sau giám định còn 0,0276gam và 0,0230gam được niêm phong trong phong bì số 250/KLGĐ ngày 16/6/2018 để tiêu hủy.
Tịch thu 1 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA đã cũ màu đen để hóa giá sung ngân sách nhà nước
Tịch thu số tiền 200.000đồng là tiền do bị cáo phạm tội mà có để sung ngân sách nhà nước.
[9] Về á n phí : Bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[10] Về quyề n khá ng cá o: Bị cáo và ngườ i có quyề n lợ i, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
[11] Anh Đặng Văn H là người mua ma túy của bị cáo để sử dụng lượng ma túy không đủ truy cứu trách nhiệm hình sự, nhân thân chưa tiền án tiền sự nên cơ quan cảnh sát điều tra dã xử phạt hành chính.
[12] Anh Phạm Văn Tr là người đi cùng bị cáo và ngồi nói chuyện tại bờ hồ thôn Vạn Đồn xã Thụy Hồng, qua tài liệu điều tra xác định anh Tr không biết bị cáo bán trái phép chất ma túy nên không xử lý anh Trung là phù hợp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾ T ĐỊ NH:
Căn cứ và o điểm q khoản 2 điều 251, điểm s khoản 1 điều 51, điều 38, điều 50; điểm b,c khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a,b khoản 2 điều 106 BLTTHS;Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu,sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố :Bị cáo Trần văn H phạm tội “Mua bá n trá i phé p chấ t ma tú y”.
2. Hình phạt: Xử phạ t bị cá o Trần Văn H 07(bẩy) năm tù. Thờ i hạ n tù tí nh từ ngàybị bắ t tạm giữ 15/6/2018.
3. Về xử lý vậ t chứ ng:
Tịch thu 0,0276gam và 0,0230gam đều là ma túy loại Heroine hòan trả sau giám định được niêm phong trong phong bì số 250/KLGĐ ngày 16/6/2018 để tiêu hủy.
Tịch thu 1 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA đã cũ màu đen để hóa giá sung ngân sách nhà nước
Tịch thu số tiền 200.000đồng là tiền do bị cáo phạm tội mà có để sung ngân sách nhà nước.
(Số vậ t chứ ng trên đã đượ c cơ quan điề u tra chuyể n sang Chi cụ c thi hà nh
án dân sự huyện Thái Thụy ngày 30/10/2018) 4. Về á n phí: Buộ c bị cá o H phải nộp 200.000 đồ ng á n phí hì nh sự sơ thẩ m. 5. Về quyề n khá ng cá o : Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngà y tuyên á n sơ thẩ m 16/11/2018. Anh H có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án. Nơi nhậ n:
| - Bị cáo; người liên quan: - VKSND huyệ n Thá i Thụ y; - Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Bình; - Công an huyệ n Thá i Thụ y; - Chi cụ c THADS huyệ n Thá i Thụ y; - Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình; - Sở Tư phá p tỉ nh Thá i Bì nh; - Lưu bộ phậ n HCTP; - Lưu hồ sơ vụ á n. HỘI THẨM NHÂN DÂN | TM. HỘ I ĐỒ NG XÉ T XỬ SƠ THẨ M THẤ M PHÁ N – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễ n Thị Kim Hằ ng HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễ n Thị Kim Hằ ng |