vanban.org

Bản án 105/2018/DSPT — Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng

TAND tỉnh Đắk Lắk Tuyên án 02/08/2018 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 02/08/2018 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Căn cứ vào khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 584, Điều 585, Điều 590 Bộ luật dân sự 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tò…

Chấp nhận một phần đơn kháng cáo của ông Nguyễn Văn T – Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 07/2018/DS – ST ngày 9/5/2018 của Toà án nhân dân huyện Ea H’Leo. Tuyên xử: Chấp nhận một phần đơn khởi kiện của ông Nguyễn Văn T. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng — án dân sự — "Nguyễn Văn T"
  • Tòa quyết gì? [1] Căn cứ vào khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 584, Điều 585, Điều 590 Bộ luật dân sự 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tò…
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 105/2018/DSPT
Ngày: 02 – 8 - 2018
“V/v yêu cầu bồi thường thiệt
hại do sức khỏe bị xâm phạm”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hằng.

Các Thẩm phán: Bà Trần Thị Phượng và bà Lưu Thị Thu Hường.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Trang– Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk: Ông Nguyễn Trọng Vượng

- Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 02 tháng 8 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 71/2018/TLPT-DS ngày 27 tháng 6 năm 2018, về việc:“Yêu cầu bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 07/2018/DS-ST ngày 09 tháng 5 năm 2018 của Toà án nhân dân huyện Ea H’Leo bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 106/2018/QĐPT-DS ngày 13/7/2018, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1963.

Địa chỉ: Thôn A, xã E, huyện H, tỉnh Đắk Lắk (có mặt).

2. Bị đơn: Anh Phạm Bá Tr, sinh năm 1994.

Địa chỉ: Thôn B, xã E, huyện H, tỉnh Đắk Lắk (có mặt).

- Anh Phạm Bá N, sinh năm 1996.

Địa chỉ: Thôn B, xã E, huyện H, tỉnh Đắk Lắk (có mặt)

- Anh Phạm Văn Th, sinh năm 1980.

Địa chỉ: Thôn B, xã E, huyện H, tỉnh Đắk Lắk (có mặt)

3. Người kháng cáo: Ông Nguyễn Văn T là nguyên đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn ông Nguyễn Văn T trình bày:

Do mâu thuẫn tranh chấp lối đi giữa vợ chồng ông Nguyễn Văn T và vợ chồng ông S1, bà S2. Vào ngày 11/11/2016, con của ông S1 và bà S2 là các anh Phạm Bá Tr, Phạm Bá N, Phạm Văn Th đã gây thương tích cho ông Nguyễn Văn T với tỷ lệ Thương tích 08%. Sau khi bị thương tích, ông T đã điều trị thương tích tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Đăk Lăk, thời gian điều trị từ ngày 11/11/2016 đến ngày 16/11/2016.

Nay, ông T yêu cầu Tòa án giải quyết buộc anh Phạm Bá Tr, anh Phạm Bá N, anh Phạm Văn Th phải bồi thường thiệt hại về sức khỏe gồm các khoản sau:

- Tiền thuê xe ô tô chở ông T đi cấp cứu từ xã E đến Bệnh viện Đa khoa tỉnh Đắk Lắk và ngược lại (sáng ngày 11/11/2016 và chiều ngày 16/11/2016): 2.200.000 đồng (không có hóa đơn).

- Tiền xe ô tô chở ông T đi tái khám: 1.000.000 đồng (không có hóa đơn).

- Chi phí tiền khám, thuốc của ông T tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Đắk Lắk trong 05 ngày (từ ngày 11/11/2016 đến ngày 16/11/2016): 1.594.430 đồng (có hóa đơn).

- Tiền ăn uống bồi dưỡng sức khỏe cho ông T trong thời gian 01 tháng sau khi xuất viện: 30 ngày x 100.000 đồng/ngày/người = 3.000.000 đồng(không có hóa đơn).

- Chi phí đi giám định thương tích: 250.000 đồng (không có hóa đơn).

- Tiền công lao động của người chăm sóc (vợ ông Nguyễn Văn T) trong 05 ngày tại bệnh viện: 05 ngày x 180.000 đồng/ngày/người = 900.000 đồng.

- Tiền ăn cho người chăm nuôi ông T tại bệnh viện trong 05 ngày: 05 ngày x 100.000 đồng/ngày/ người = 500.000 đồng (không có hóa đơn).

- Tiền thuê nhân công lao động (chăm sóc cà phê: làm cỏ, tưới nước, cắt cành, lái xe công nông thu hoạch) trong 05 tháng: 150 công, trong đó có 120 công lao động phổ thông : 120 công x 180.000 đồng/ngày = 21.600.000 đồng và 30 công kỹ thuật lao động (bao gồm công cắt cành, chạy xe công nông thu hoạch cà phê, sấy cà phê): 30 công x 250.000 đồng/ngày = 7.500.000 đồng; tổng cộng 29.100.000 đồng (không có hóa đơn).

- Tiền tổn thất về tinh thần: Sau khi bị đánh, tinh thần ông T không ổn định, không đi lao động được, số tiền ông T yêu cầu bồi thường là 06 tháng lương tối thiểu x 1.300.000 đồng/tháng = 7.800.000 đồng.

Tổng cộng các khoản ông T yêu cầu anh Phạm Bá Tr, anh Phạm Bá N, anh Phạm Văn Th phải bồi thường cho ông T là: 46.344.430 đồng. Khi ông T điều trị tại Bệnh viện, các anh Phạm Bá Tr, anh Phạm Bá N, anh Phạm Văn Th đã bồi thường cho ông T số tiền 5.000.000 đồng, nay ông T yêu cầu anh Phạm Bá Tr, anh Phạm Bá N, anh Phạm Văn Th bồi thường (46.344.430 đồng – 5.000.000 đồng) = 41.344.430 đồng.

Bị đơn các anh Phạm Bá Tr, Phạm Bá N, Phạm Văn Th trình bày:

Các đồng bị đơn Phạm Bá Tr, Phạm Bá N, Phạm Văn Th chỉ đồng ý bồi thường cho ông T các khoản tiền sau:

- Tiền thuê xe ô tô đi điều trị từ xã E đến Bệnh viện Đa khoa tỉnh Đăk Lăk: 700.000 đồng. Tiền xe từ bệnh viện đa khoa tỉnh Đăk Lăk về xã E 100.000 đồng (Do lượt về ông T đã bình phục nên không cần phải thuê xe ô tô).

- Tiền điều trị theo hóa đơn: 1.594.000 đồng;

- Tiền thu nhập thực tế bị mất của người bị thương tích trong thời gian điều trị tại bệnh viện: 5 ngày x 180.000 đồng/ngày = 900.000 đồng;

- Tiền công người chăm sóc trong thời gian điều trị tại bệnh viện của 01 người: 5 ngày x 180.000 đồng/ngày = 900.000đ;

- Tiền công suy giảm sức khỏe do không đi làm được: 90 ngày x 180.000 đồng/ngày x 8% = 1.296.000 đồng (do ông T chỉ bị suy giảm khả năng lao động 08%, tạm thời trong 03 tháng theo kết luận pháp y).

- Thiệt hại về tổn thất tinh thần: 03 lần mức lương cơ sở x 1.300.000 đồng/tháng = 3.900.000 đồng.

Tổng cộng: 9.390.000 đồng.

Anh Tr, anh N, anh Th đã bồi thường cho ông T số tiền 5.000.000 đồng. Do vậy nay anh Tr, anh N, anh Th chỉ đồng ý bồi thường thêm số tiền 4.390.000 đồng.

Đối với các khỏan còn lại theo đơn khởi kiện mà ông T yêu cầu, anh Tr, anh N, anh Th không đồng ý bồi thường.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 07/2018/DS - ST ngày 09/5/2018, Toà án nhân dân huyện Ea H’leo đã quyết định:

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn T.

Buộc anh Phạm Bá Tr, anh Phạm Bá N và anh Phạm Văn Th phải liên đới bồi thường cho ông Nguyễn Văn T số tiền 11.088.430 đồng. Chia theo phần anh Phạm Bá Tr phải bồi thường 3.696.144 đồng; anh Phạm Bá N phải bồi thường 3.696.144 đồng; anh Phạm Văn Th phải bồi thường 3.696.144 đồng.

Căn cứ khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự để tính lãi suất chậm thi hành án đối với khoản tiền trên.

Bác phần yêu cầu bồi thường còn lại của ông Nguyễn Văn T, vì không có căn cứ.

Đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu của đương sự đã rút.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí và tuyên quyền kháng cáo, quyền thi hành án theo quy định của pháp luật.

Ngày 22/5/2018, nguyên đơn ông Nguyễn Văn T có đơn kháng cáo với nội dung: Không đồng ý với bản án sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án dân sự sơ thẩm số 07/2018/DS – ST ngày 9/5/2018 của Toà án nhân dân huyện Ea H’Leo theo hướng buộc bị đơn phải liên đới bồi thường cho ông Nguyễn Văn T số tiền là 46.344.430 đồng.

Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn ông Nguyễn Văn T vẫn giữ nguyên nội dung đơn khởi kiện và đơn kháng cáo.

Quá trình tranh luận, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử phúc thẩm tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận một phần đơn kháng cáo của ông Nguyễn Văn T, sửa bản án dân sự sơ thẩm số 07/2018/DS – ST ngày 9/5/2018 của Toà án nhân dân huyện Ea H’Leo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, và các đương sự. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Đơn kháng cáo của nguyên đơn trong hạn luật định và đã nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm, nên vụ án được giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

Về nội dung: Do mâu thuẫn tranh chấp lối đi giữa vợ chồng ông Nguyễn Văn T và vợ chồng ông S1, bà S2. Ngày 11/11/2016 con của ông S1 bà S2 là các anh Phạm Bá Tr, Phạm Bá N, Phạm Văn Th đã dùng tay chân đấm đá gây thương tích cho ông T với tỷ lệ thương tích 08% chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự. Vì vậy, Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện EaH’leo đã ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự nên ông Nguyễn Văn T đã khởi kiện yêu cầu anh Tr, anh N, anh Th liên đới bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho ông là phù hợp với quy định của pháp luật.

Xét kháng cáo của ông Nguyễn Văn T về việc yêu cầu các đồng bị đơn phải liên đới bồi thường cho ông số tiền 46.344.430 đồng. Hội đồng xét xử xét thấy: Theo bản án sơ thẩm nhận định chấp nhận các yêu cầu của nguyên đơn cụ thể các khoản: Tiền thuốc và chi phí nằm viện tại bệnh viện đa khoa tỉnh Đắk Lắk (có hóa đơn) là 1.594.430 đồng, tiền thuê xe chở ông T đi cấp cứu từ xã E đến Bệnh viện Đa khoa tỉnh Đắk Lắk là 1.200.000 đồng, tiền xe đi về khi xuất viện (cho hai người) là 160.000 đồng, tiền giám định thương tích là 250.000 đồng, tiền thu nhập thực tế bị mất của ông T và tiền thu nhập bị mất của người chăm sóc ông T trong thời gian điều trị 5 ngày tại bệnh viện là 2 người x 5 ngày x 180.000 đồng = 1.800.000 đồng, tiền công lao động của ông T sau khi xuất viện 12 tháng (360 ngày) là : (360 ngày) x 180.000 đồng/ngày x 08% sức khỏe bị suy giảm = 5.184.000 đồng là hợp lý. Tuy nhiên, đối với khoản tiền bồi dưỡng sức khỏe cấp sơ thẩm chấp nhận 2.000.000 đồng là thấp nên xem xét cần chấp nhận theo yêu cầu của nguyên đơn 3.000.000 đồng là phù hợp. Đối với khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần, theo quy định tại Điều 590 BLDS năm 2015 quy định mức bồi thường tổn thất về tinh thần không quá 50 tháng lương cơ sở, do vậy cần chấp nhận cho nguyên đơn 05 tháng lương cơ sở là: 5tháng x 1.300.000đ/ tháng = 6.500.000 đồng là phù hợp. Ngoài ra tại phiên tòa phúc thẩm ông T xác định sau khi xuất viện ông bị đau nên đã đến bệnh viện đa khoa huyện EaH’Leo chụp X quang là 77.000 đồng(có hóa đơn), ông mua thuốc theo đơn của bác sĩ là 140.000 đồng, đây là các chi phí thực tế nên cần chấp nhận.

Do vậy, cần chấp nhận các khoản gồm: - Tiền thuốc và chi phí nằm viện tại bệnh viện đa khoa tỉnh Đắk Lắk (có hóa đơn) là 1.594.430 đồng, tiền thuê xe chở ông T đi cấp cứu là 1.200.000 đồng, tiền xe đi về khi xuất viện (cho hai người) là 160.000 đồng, tiền giám định thương tích là 250.000 đồng, tiền thu nhập thực tế bị mất của ông T và tiền thu nhập bị mất của người chăm sóc ông trong thời gian điều trị 5 ngày tại bệnh viện là 1.800.000 đồng, tiền công lao động của ông T sau khi xuất viện 12 tháng là 5.184.000 đồng, tiền bồi dưỡng sức khỏe là 3.000.000 đồng, tiền bù đắp tổn thất tinh thần là 6.500.000 đồng, tiền chụp X quang 77.000 đồng, tiền thuốc 140.000 đồng. Tổng cộng 19.905.430 đồng. Bị đơn anh Phạm Bá Tr, anh Phạm Bá N và anh Phạm Văn Th đã bồi thường 5.000.000 đồng nên phải khấu trừ và các anh Phạm Bá Tr, anh Phạm Bá N và anh Phạm Văn Th còn tiếp tục liên đới bồi thường cho ông T số tiền còn lại là 14.905.403 đồng, chia theo phần cụ thể: anh Phạm Bá Tr phải bồi thường 4.968.478 đồng, anh Phạm Bá N phải bồi thường 4.968.478 đồng, Phạm Văn Th phải bồi thường 4.968.478 đồng.

Đối với số tiền còn lại 26.439.000 đồng ông T yêu cầu các đồng bị đơn có trách nhiệm liên đới bồi thường là không có căn cứ và không phù hợp với quy định của pháp luật nên HĐXX không chấp nhận.

Từ những nhận định trên có căn cứ chấp nhận một phần đơn kháng cáo của ông Nguyễn Văn T. Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 07/2018/DS – ST ngày 9/5/2018 của Toà án nhân dân huyện Ea H’Leo.

Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo được chấp nhận một phần nên ông Nguyễn Văn T không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Căn cứ vào khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 584, Điều 585, Điều 590 Bộ luật dân sự 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Chấp nhận một phần đơn kháng cáo của ông Nguyễn Văn T – Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 07/2018/DS – ST ngày 9/5/2018 của Toà án nhân dân huyện Ea H’Leo.

Tuyên xử: Chấp nhận một phần đơn khởi kiện của ông Nguyễn Văn T.

Buộc anh Phạm Bá Tr, anh Phạm Bá N và anh Phạm Văn Th phải liên đới bồi thường cho ông Nguyễn Văn T số tiền 19.905.430 đồng. Được khấu trừ số tiền 5.000.000 đồng đã tự nguyện bồi thường sau khi gây Thương tích. Anh Tr, anh N và anh Th phải tiếp tục bồi thường cho ông Nguyễn Văn T số tiền còn lại là 14.905.430 đồng, chia theo phần cụ thể: Anh Phạm Bá Tr phải bồi thường 4.968.478 đồng, anh Phạm Bá N phải bồi thường 4.968.478 đồng, anh Phạm Văn Th phải bồi thường 4.968.478 đồng.

Áp dụng khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự, để tính lãi suất chậm thi hành án đối với khoản tiền nói trên.

Bác phần yêu cầu bồi thường còn lại của ông T với số tiền 26.439.000 đồng, vì không có căn cứ.

Đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu của đương sự đã rút.

[2] Về án phí :

[2.1] Về án phí DSST: Anh Phạm Bá Tr, Phạm Bá N, Phạm Văn Th mỗi người phải chịu 300.000đ án phí DSST.

[2.2] Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Nguyễn Văn T không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

[3] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.

Cỡ chữ