vanban.org

Bản án 105/2017/HSST — Hình sự

TAND TP. Thái Bình, tỉnh Thái Bình Tuyên án 04/07/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Văn Đ phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật…"
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị quyết số 109/2015/QH13 Về việc thi hành Bộ Luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ T
TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Án số: 105/2017/HSST
Ngày 04 - 7 - 2017

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ T, TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Việt Hưng.

Các Hội thẩm nhân dân: - Bà Phạm Thị Thu.

- Ông Hoàng Văn Đức.

Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Tiến Thành - Thư ký Toà án nhân dân thành phố T, tỉnh Thái Bình.

Đại diê ̣n Viê ̣n kiểm sá t nhân dân thành phố T tham gia phiên tòa: Ông Trần Phú Cường - Kiểm sát viên.

Hôm nay, ngày 04 tháng 7 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Thái Binh, Tòa án nhân dân thành phốT xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự

̀ thụ lý số: 99/2017/HSST ngày 17 tháng 6 năm 2017 theo Quyết đi ̣nh đưa vu ̣ án ra xét xử số: 111/2017/QĐXX-ST ngày 24 tháng 6 năm 2017, đối vớ i bị cáo:

Họ và tên: PHẠM VĂN Đ, sinh ngày 14/7/1976.

Nơi đăng ký hô ̣ khẩu thườ ng trú và nơi cư trú : Phường P, thành phố T, tỉnh Thái Bình.

Nghề nghiê ̣p: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12.

Quốc ti ̣ch: Viê ̣t Nam;

Dân tô ̣c: Kinh.

Con ông: Phạm Văn Đ, sinh năm 1949; Con bà: Nguyễn Thi ̣C, sinh năm 1950.

Vợ: Nguyễn Thị V – Sinh năm 1984.

Con lớn sinh năm 2012, con nhỏ sinh năm 2016.

* Tiền án, tiền sự: Không.

* Nhân thân: - Bản án số 29/HSST ngày 29/7/1995 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xử phạt 21 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội trộm cắp tài sản và tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có.

- Ngày 19/6/2009 bị áp dụng biện pháp đưa vào Trung tâm chữa bệnh giáo dục lao động xã hội theo quyết định số 1203/QĐ của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố T, tỉnh Thái Bình, thời hạn 12 tháng.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 09/5/2017 đến ngày 12/5/2017 chuyển ta ̣m giam cho đến nay. Hiê ̣n bi ̣ cáo đang bi ̣ ta ̣m giam ta ̣i Nhà tạm giữ Công an thành phố T, tỉnh Thái Bình. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người làm chứ ng:

- Anh Phạm Văn B, sinh năm 1991; Trú tại thôn A, xã B, huyện V, tỉnh Thái Bình (Vắ ng mặt)

- Anh Bùi Mạnh T, sinh năm 1985; Trú tại phường B, thành phố T, tỉnh Thái Bình (Vắ ng mặt)

NỘI DUNG VỤ Á N:

Theo các tài liê ̣u có trong hồ sơ vu ̣ án và diễn biến ta ̣i phiên tòa , nô ̣i dung vu ̣ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 09/5/2017, Phạm Văn Đ đi bộ từ nhà đến khu vực phường T, thành phố T, tỉnh Thái Bình với mục đích mua ma túy về sử dụng. Khi đến ngõ nhỏ ở đường L, phường T, thành phố T, Đ gặp một người nam giới không quen biết khoảng 35 tuổi, mặc quần áo tối màu và mua của người này 01 gói nhỏ Hêrôin bên ngoài được gói bằng giấy bạc màu trắng vớ i giá 100.000 đồng. Đ nhận và giấu gói ma túy vào trong túi quần bên phải, sau đó đi tìm chỗ để sử dụng. Khi Đ đi đến khu vực đường L, phường T, thành phố Thái Bình thì bị tổ công tác Công an thành phố T phát hiện yêu cầu kiểm tra. Trước sự chứng kiến của 02 người làm chứng là anh Phạm Văn B, sinh năm 1991, trú tại thôn A, xã B, huyện V, tỉnh Thái Bình và anh Bùi Mạnh T, sinh năm 1985, trú tại phường B, thành phố T, tỉnh Thái Bình, Đ tự giác lấy từ túi quần bên phải ra giao nộp cho tổ công tác 01 gói bằng giấy bạc màu trắng, bên trong chứa chất bột màu trắng dạng cục. Đ khai nhận đó là Hêrôin mới mua để sử dụng. Tổ công tác gói lại và niêm phong vào phong bì dán kín trên mép có chữ ký của Đ và 02 người làm chứng. Kiểm tra người Đ tổ công tác không thu giữ tài sản nào khác, sau đó tổ công tác yêu cầu Đ và mời anh B, anh T về trụ sở Công an thành phố T lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Tại bản Kết luận giám định số 154/KLGĐ-PC54 ngày 10/5/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình kết luâ ̣n: Mẫu gử i giám định thu của Phạm Văn Đ là ma túy , loại Hêrôin, có trọng lượng 0,3470 gam (không phẩy ba nghin

̀ bốn trăm bẩy mươi gam).

Trong quá trinh điều tra , truy tố và ta ̣i phiên tòa hôm nay , Phạm Văn Đ đa ̃

̀ khai nhâ ̣n toàn bô ̣ hành vi pha ̣m tô ̣i của mình.

Bản cáo trạng số 108/KSĐT ngày 15 tháng 6 năm 2017 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Binh truy tố bi ̣ cáo Phạm Văn Đ về tô ̣i “Tàng trữ trái phép

̀ chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 Bô ̣ luâ ̣t hinh sự.

̀

Tại phiên tòa, đa ̣i diê ̣n Viê ̣n kiểm sát nhân dân thành phố T vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố Phạm Văn Đ về tô ̣i “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Đa ̣i diê ̣n Viê ̣n kiểm sát nhân dân thành phố T đề nghị Hội đồng x ét xử áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 + khoản 2 Điều 46; Điều 33 Bộ luật Hình sự năm 1999; Căn cứ vào những chinh sách có lợi cho bi ̣ cáo do thay đổi chinh

́

́ sách pháp luật của Nhà nước theo Nghị quyết số 109/2015/QH13 ngày 27/11/2015 của Quốc hội ; Nghị quyết số 144/2016/QH13 ngày 29/6/2016 của Quốc hội và khoản 3 Điều 7, điểm c khoản 1 Điều 249 Bô ̣ luâ ̣t Hinh sự năm 2015. Đề nghị xử

̀ phạt bị cáo mứ c án t ừ 15 tháng đến 18 tháng tù. Thờ i ha ̣n tù tinh từ ng ày bị cáo bị

́ tạm giữ 09/5/2017;

Đề nghi ̣ ti ̣ch thu tiêu hủy toàn bô ̣ số ma túy hoàn trả sau giám đi ̣nh;

Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo đồng ý vớ i quan điểm truy tố của vị đại diê ̣n Viê ̣n kiểm sát về tô ̣i danh, điều luâ ̣t áp du ̣ng, mứ c hinh pha ̣t, xử lý vâ ̣t chứ ng và không có ý kiến, tranh

̀ luâ ̣n gi.

̀

Trướ c khi Hô ̣i đồng xét xử vào phòng nghi ̣ án , bị cáo trình bày lời nói sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

̀

NHẬN ĐI ̣NH CỦ A HỘI ĐÔNG XÉ T XỬ :

Trên cơ sở nô ̣i dung vu ̣ án , căn cứ vào các tài liê ̣u trong hồ sơ vu ̣ án đa đượ̃

c thẩm tra, xét hỏi, tranh luâ ̣n ta ̣i phiên tòa, Hô ̣i đồng xét xử nhâ ̣n thấy như sau:

Về hà nh vi, quyết đi ̣nh tố tu ̣ng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viê ̣n kiểm sát nhân dân thành phố T, Kiểm sát viên trong quá trinh

̀ điều tra, truy tố đa thự̃

c hiê ̣n đúng về thẩm quyền , trình tự, thủ tục quy định của Bộ luâ ̣t tố tu ̣ng hinh sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa , bị cáo, không ai có ý kiến

̀ hoă ̣c khiếu na ̣i về hành vi, quyết đi ̣nh của Cơ quan tiến hành tố tu ̣ng, ngườ i tiến hành tố tu ̣ng. Do đó, các hành vi, quyết đi ̣nh tố tu ̣ng của Cơ quan tiến hành tố tu ̣ng, ngườ i tiến hành tố tu ̣ng đa thự̃

c hiê ̣nđúng theo quy định của pháp luật.

Lờ i khai của bi ̣ cáo ta ̣i phiên tòa hôm nay phù hợp vớ i lờ i khai của bi ̣ cáo ta ̣i giai đoa ̣n điề u tra, truy tố , phù hợp với các tài liệu , chứ ng cứ như : Biên bản bắt ngườ i pha ̣m tô ̣i quả tang (bút lục số 03, 04); Biên bản niêm phong vâ ̣t chứ ng (bút lục số 16); Bản kết luận giám định số 154 ngày 10/5/2017 (bút lục số 19); Bản tự khai và biên bản ghi lờ i khai của những ngườ i làm chứ ng anh Phạm Văn B, sinh năm 1991, trú tại thôn A, xã B, huyện V, tỉnh Thái Bình và anh Bùi Mạnh T, sinh năm 1985, trú tại phường B, thành phố T, tỉnh Thái Bình (bút lục số 51-55); Cùng các tài liệu, chứ ng cứ khác có trong hồ sơ vu ̣ án.

Bị cáo là người trên 18 tuổi, có đầy đủ năng lực nhận thức và điều khiển

hành vi của mình.

Hành vi phạm tội của b ị cáo Phạm Văn Đ là nguy hiểm cho xã hội , đa xâm̃ phạm quy định quản lý chất gây nghiện của Nhà nước . Ma túy là vật cấm lưu hành, không những làm sa sút về sức khỏe trí tuệ con người mà nó còn làm hủy hoại đạo đức nhân cách con người, là tác nhân lan truyền đại dịch HIV/AIDS, là nguồn gốc phát sinh các loại tội phạm khác gây ảnh hưở ng đến trâ ̣t tự trị an.

Bị cáo tuy nhận thức được tác hại của ma túy , nhâ ̣n thứ c được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy , mục đích đ ể sử dụng cho bản thân bị pháp luật nghi êm cấm nhưng vẫn thực hiê ̣n vớ i lỗi cố ý. Theo bản kết luâ ̣n giám đi ̣nh số 154/KLGĐ-PC54 ngày 10/5/2017, số ma túy thu được của Phạm Văn Đ là ma túy loại hêrô in, có trọng lượng 0,3470 gam.

Như vâ ̣y, hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tô ̣i “Tà ng trữ trá i phé p chất ma tú y” theo khoản 1 Điều 194 Bô ̣ luâ ̣t hinh sự năm 1999.

̀

Điều 194 Bộ luật hinh sự năm 1999 quy đi ̣nh:

̀

“1. Người nào tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma tuý, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm”.

Xem xét nhân thân và các tinh tiết giảm nhe ̣ , tăng nă ̣ng trách nhiê ̣m hinh sự

̀

̀ của bị cáo thấy: Bị cáo là người có nhân thân xấu do đã từng bị xét xử , xử pha ̣t vi phạm hành chính và bị đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc.

Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưở ng tinh tiết giảm nhe ̣

̀ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999; Bố đẻ bị cáo được tặng thưởng Huân chương chiến công giải phóng của Quân đoàn giải phóng miền Nam năm 1975 nên được hưở ng tinh tiết giảm nhe ̣ quy đ ịnh tại

̀ điểm x khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, là tình tiết có lợi cho bị cáo.

Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Điều 249 Bộ luật hinh sự năm 2015 quy đi ̣nh:

̀

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm: …

c) Hêrôin, côcain, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;…”

Theo quy đi ̣nh ta ̣i khoản 1 Điều 194 Bô ̣ luâ ̣t Hinh sự năm 1999 mứ c hinh pha ̣t

̀

̀ tù từ 02 năm đến 07 năm là cao hơn so vớ i mứ c hinh pha ̣t tù từ 01 năm đến 05 năm

̀ quy đi ̣nh ta ̣i khoản1 Điều 249 Bô ̣ luâ ̣t Hinh sự năm2015. Căn cứ vào những quy đi ̣nh

̀

có lợi cho bi ̣ cáo do thay đổi chinh sách pháp luâ ̣t Hinh sự của Nhà nướ c theo Nghi ̣

́

̀ quyết số 109/2015/QH13 ngày 27/11/2015 của Quốc hội ; Nghị quyết số 144/2016/QH13 ngày 29/6/2016 của Quốc hội; Công văn số 315/TANDTC-PC ngày 11/12/2015 của Tòa án nhân dân tối cao; Công văn số 110/CV-BCS ngày 21/6/2016 của Ban cán sự Đảng Tòa án nhân dân tối cao; Công văn số 276/TANDTC-PC ngày 13/9/2016 của Tòa án nhân dân tối cao ; khoản 3 Điều 7, điểm x khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 249 Bô ̣ luâ ̣t Hinh sự năm 2015; Và căn cứ vào tính chất, mứ c đô ̣ pha ̣m

̀ tô ̣i, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bi ̣ cáo, HĐXX xét thấy cần lên mô ̣t mứ c án tương xứ ng vớ i hành vi pha ̣m tô ̣i của bi ̣ cáo đa gây rã

, cần thiết cách ly bi ̣ cáo khỏi xa hô ̣̃ i mô ̣t thờ i gian, mớ i đủ sứ c giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung, nhưng khi lượng hình xem xét cân nhắc giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt để bị cáo thấy được chính sách khoan hồng của pháp luật.

Khoản 5 Điều 194 Bô ̣ luâ ̣t hinh sự năm 1999 quy đi ̣nh: “Người phạm tội còn

̀

có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.”

Bị cáo là người nghiện ma túy, có hành vi tàng trữ ma túy với mục đích sử

dụng, vì vậy không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vâ ̣t chứ ng : Số ma túy thu giữ được của bi ̣ cáo Đ là vật thuộc loại Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.

Trong quá trinh điều tra , truy tố , xét xử bị cáo đều khai đã mua ma túy của

̀ mô ̣t ngườ i đàn ông khoảng 35 tuổi, không quen biết, ở khu vực đường L, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Bình. Qua điều tra, xác minh, không xác đi ̣nh được cu ̣ thể ngườ i bán ma túy cho bi ̣ cáo nên không đủ căn cứ để xử ly.́

Về án phi: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

́

Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn luật định.

Vì các lẽ trên,

́

QUYÊT ĐI ̣NH:

1. Tuyên bô:́ Bị cáoPhạm Văn Đ phạm tội“Tà ng trữ trá i phé p chất ma tú y”.

2. Hình phạt : Áp dụng kho ản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46; Điều 33 Bộ luật Hình sự năm 1999; Nghị quyết số 109/2015/QH13 ngày 27/11/2015 của Quốc hội ; Nghị quyết số 144/2016/QH13 ngày 29/6/2016 của Quốc hội và khoản 3 Điều 7; điểm x khoản 1 Điều 51; điểm c khoản 1 Điều 249 Bô ̣ luâ ̣t Hinh sự

̀ năm 2015.

Xử pha ̣t bi ̣ cáo Phạm Văn Đ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thờ i hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ 09/5/2017.

3. Về xử lý vâ ̣t chứ ng : Áp dụng Điều 76 Bô ̣ luâ ̣t tố tu ̣ng hinh sự ; Điều 41

̀ Bô ̣ luâ ̣t hinh sự.

̀

- Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy hoàn trả sau giám định là 0,3245 gam hêrôin được niêm phong trong phong bì số 154/KLGĐ.

(Số vật chứng trên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Bình đã chuyển Chi cục Thi hành án dân sự thành phố T, tỉnh Thái Bình)

4. Về á n phí : Áp dụng Điều 99 Bô ̣ luâ ̣t tố tu ̣ng hinh sự ; Nghị quyết số

̀ 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buô ̣c bi ̣ cáo Phạm Văn Đ phải nộp 200.000 đồng án phi hinh sự sơ thẩm.

́ ̀

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ

thẩm 04/7/2017./. Nơi nhận:

̀

̉

Cỡ chữ